CHƯƠNG III
TUỔI TRẺ QUẢNG TRỊ THAM GIA XÂY DỰNG
VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG,
KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Và CAN THIỆP MỸ (1945 - 1954)
I. ĐI ĐẦU TRONG VIỆC BẢO VỆ VÀ XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, SẲN SÀNG CHIẾN ĐẤU CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (9 - 1945 – 12 - 1946)
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đứng đầu đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Đây là thắng lợi to lớn đầu tiên ở một nước thuộc địa do Đảng Cộng sản lãnh đạo làm cho chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế hết sức lo ngại.
Vừa mới ra đời, Nhà nước cách mạng non trẻ đã phải đương đầu ngay với thù trong, giặc ngoài vô cùng nguy hiểm và muôn vàn khó khăn của nền kinh tế vốn đã nghèo nàn lạc hậu, lại bị Pháp - Nhật tranh nhau vơ vét, làm cho tiêu điều kiệt quệ. Đất nước nằm trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc.
Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết và khôn khéo của Đảng ta và Hồ Chủ tịch, tuổi trẻ cùng nhân dân Việt Nam đã phát triển thế tiến công của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945... Do đó, chẳng những bảo vệ được chính quyền mà còn đưa cách mạng tiếp tục tiến bước vững chắc, giành thế chủ động ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai.
Ngày 3-9-1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Hồ Chủ tịch đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay: Một là, phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói... Hai là, mở chiến dịch chống nạn mù chữ. Ba là tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đấu phiếu, thực hiện quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Bốn là, mở phong trào giáo dục tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, để bài trừ những thói hư tật xấu do chế độ cũ để lại. Năm là, bãi bỏ ngay thuế thân... và nghiêm cấm việc hút thuốc phiện. Sáu là, tuyên bố quyền tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương giáo.
Ngày 25-11-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Kháng chiến và kiến quốc". Chỉ thị đề ra nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và tuổi trẻ cả nước tích cực tham gia chống: Giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm.
Thực hiện chủ trương của Chính phủ và hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, tuổi trẻ Quảng Trị thực sự là lực lượng nòng cốt trong chiến dịch tăng gia sản xuất và cứu đói. Trong Thư gửi các nhà nông, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập ".
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, với ý thức làm chủ đất nước, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên cùng các tầng lớp nhân dân rầm rộ tiến quân vào mặt trận sản xuất. Các nhóm tuyên truyền xung phong của thanh niên ở xã, thị trấn, ở thị xã Quảng Trị chia nhau đi kẻ khẩu hiệu, dán panô, áp phích "Không một tấc đất bỏ hoang", "Tấc đất, tấc vàng"... Hàng trăm đội sản xuất được thành lập ở các xóm, thôn do lực lượng thanh niên làm nòng cốt, ngày đêm thay nhau lao động miệt mài trên đồng ruộng, nhiều đội sản xuất ở các huyện đồng bằng kéo nhau lên khai hoang các vùng đất bãi bồi ven sông Nhùng, sông Thạch Hãn, sông Hiếu, sông Bến Hải và ven đồi, trồng các loại rau màu ngắn ngày chống đói. Thiếu nhi các thôn, xã với băng cờ, khẩu hiệu, trống ếch rộn rã cất cao các bài ca cách mạng để cổ động phong trào tăng gia sản xuất và cứu đói. Kết quả phong trào: Sản xuất nông nghiệp được nhanh chóng khôi phục, nạn đói bị đẩy lùi, đời sống vật chất của nhân dân, đặc biệt là nông dân lao động được cải thiện một bước.
Đi đôi với phong trào sản xuất nông nghiệp, Đảng và Chính phủ kêu gọi toàn dân nêu cao tinh thần đoàn kết tương trợ đùm bọc lẫn nhau để vượt qua nạn đói. Trong Thư gửi đồng bào toàn quốc ra sức cứu đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với đồng bào cả nước và Người nêu gương thực hiện trước: "Cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba lần, đem gạo đó (một bữa một bơ) để cứu dân nghèo".
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, đoàn viên, thanh niên ở các cơ sở của tỉnh ta đã tích cực tham gia vào các đoàn vận động lạc quyên cứu đói như tổ chức "Hũ gạo cứu đói", "Ngày đồng tâm nhịn ăn". Đoàn viên, thanh niên ở các cơ quan: Giao thông, bưu điện, văn hóa, giáo dục, y tế còn có sáng kiến "Lập quỹ tương ái " để giúp các gia đình cán bộ, công nhân viên trong cơ quan đang gặp khó khăn về kinh tế; đoàn viên, thanh niên trong các lực lượng vũ trang của huyện, của tỉnh lập "Quỹ cứu trợ người nghèo"...
Ngày 4-9-1945, Chính phủ ban hành sắc lệnh tổ chức Quỹ độc lập. Tiếp sau đó, Đảng và Chính phủ ta đề ra biện pháp Tuần lễ vàng trong cả nước (từ 17 đến 24-9-1945). Hưởng ứng Tuần lễ vàng, tuổi trẻ và nhân dân Quảng Trị đã dấy lên phong trào thi đua đóng góp tiền của, vàng, bạc, đồng,... trong đó có một số nữ đoàn viên, thanh niên đã ủng hộ cả tư trang, vật kỷ niệm ngày cưới của mình như hoa tai vàng, nhẫn vàng, xuyến vàng... vào Quỹ độc lập của quốc gia.
Thắng lợi của Phong trào tăng gia sản xuất, cứu đói có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn. Nó làm nổi bật tính ưu việt của chế độ mới. Thắng lợi của phong trào Tuần lễ vàng không những có ý nghĩa góp vào nền tài chính, quốc phòng, mà còn chứng tỏ quyết tâm của nhân dân và tuổi trẻ ta quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập mới giành được.
Song song với những thắng lợi thu được trên mặt trận sản xuất, cứu đói, nhân dân và tuổi trẻ toàn tỉnh đã lập được nhiều thành tích trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế. Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đoàn viên, thanh niên ở các cơ sở cũng đi đầu trong cuộc vận động xây dựng nếp sống mới. Cuộc vận động này nhằm mục đích giáo dục lòng yêu nước, yêu lao động, căm thù bóc lột, xây dựng đạo đức cách mạng cho mọi người. Nhận rõ chức năng, nhiệm vụ của mình, đoàn viên, thanh niên hăng hái cùng cán bộ thông tin xã, phường dựng "chòi thông tin " ở khắp các thôn, xóm. Tối đến, cán bộ thông tin (đều là đoàn viên, thanh niên) dùng loa miệng bằng mo cau hoặc cáctông, từ chòi thông tin phát ra các bản tin với nội dung: Tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, loan tin thành tích vừa đạt được trên các mặt kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, nêu gương "Người tốt, việc tốt" cho mọi người, mọi nhà nghe... Hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính quần chúng rộng rãi, lời ca tiếng hát của cách mạng vang lên khắp xóm thôn, đường phố nhất là vào ban đêm, những buổi hội họp,v.v...
Kết quả cuộc vận động cải cách văn hóa, xã hội, xây dựng nếp sống mới đã có tác dụng xóa bỏ phong tục tập quán lạc hậu trong ma chay, cưới xin, xóa bỏ nạn trộm cắp, nghiện hút, đồng thời phát động phong trào toàn dân xây dựng cuộc sống mới vui tươi, lành mạnh.
Ngày 8-9-1945, Chính phủ ban hành sắc lệnh thành lập “Nha bình dân học vụ để trông nom việc học của nhân dân". Trong lời kêu gọi chống nạn thất học, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Nhân dân Việt Nam! Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ".
Hưởng ứng lời kêu gọi chống nạn thất học của Hồ Chủ tịch, Tỉnh ủy và ủy ban Cách mạng của tỉnh Quảng Trị mở chiến dịch chống nạn mù chữ và giao nhiệm vụ cho đoàn viên, thanh niên làm nòng cốt. Thực hiện chủ trương đó, cả tỉnh đã dấy lên một phong trào học chữ Quốc ngữ sôi nổi từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng miền biển đến miền núi. Hầu hết các lớp bình dân học vụ đều do đoàn viên, thanh niên đảm nhiệm. Lúc này cả tỉnh như một trường học lớn mở lớp ở bất cứ đâu và bất cứ thời gian nào thuận tiện cho người đi học. Lớp đông có vài ba chục người, lớp ít có vài ba người tùy điều kiện cho phép. Đêm đến, khắp các gia đình trong thôn xóm vang lên tiếng đánh vần, đọc chữ đủ mọi lứa tuổi dưới ánh đèn "dầu chuối", "dầu hỏa" tỏa sáng, tạo ra một bầu không khí mới mẻ, có sức cảm hóa kỳ lạ. Với tinh thần hiếu học, kết quả sau một năm toàn tỉnh đã thanh toán được nạn mù chữ cho hàng vạn người ở độ tuổi dưới 45, trong đó đa số là thanh niên. Đây là một trong những thành tựu cách mạng làm cho nhân dân trong tỉnh nói chung, tuổi trẻ Quảng Trị nói riêng hết sức phấn khởi. Từ chỗ "O tròn như quả trứng gà, ô thời đội mũ, ơ thì thêm râu" nay họ đã đọc được, viết được, tự mình tìm đọc sách, báo của Đảng, của Đoàn, tự mình tìm hiểu đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước và của đoàn thể để có thể góp phần tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ngày một hiệu quả hơn.
Bên cạnh phong trào diệt giặc dốt, hệ thống giáo dục phổ thông của Quảng Trị trong năm đầu dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát triển khá mạnh. Hầu hết các xã đều mở được trường tiểu học, thu hút trên một vạn thanh thiếu niên vào học.
Công tác y tế, vệ sinh phòng bệnh được chính quyền, đoàn thể các cấp chăm lo xây dựng. Nhiều nam, nữ đoàn viên, thanh niên có trình độ văn hóa "yếu lược"(1) hoặc "primaire"(2) được chính quyền các cấp cử đi dự các lớp đào tạo y tá, hộ sinh do tỉnh mở cấp tốc. Sau khi học xong, số y tá, hộ sinh này đã trở thành lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng mạng lưới y tế của tỉnh, phần lớn được cử phụ trách trạm xá ở xã, ở phường, ở cơ quan cấp huyện, cấp tỉnh, trong các lực lượng vũ trang.
Trong điều kiện chính quyền cách mạng bị thù trong giặc ngoài quấy phá, uy hiếp, việc động viên thanh niên tham gia xây dựng lực lượng vũ trang càng trở thành một yêu cầu bức xúc và đã được Trung ương đặc biệt quan tâm ngay từ sau ngày cướp chính quyền về tay nhân dân trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, ở Quảng Trị, không khí tòng quân và luyện tập quân sự diễn ra sôi nổi mạnh mẽ chưa từng có ở nông thôn cũng như đô thị. Ngoài việc góp phần quyết định thành lập "Chi đội Thiện Thuật"(1) chi đội giải phóng quân đầu tiên của Quảng Trị gồm 1.500 chiến sĩ vào ngày 19-9-1945, lực lượng đoàn viên, thanh niên trong tỉnh còn là lực lượng chủ yếu, chiếm đại bộ phận trong đại đội dân quân Lê Hồng Phong của tỉnh, trong lực lượng dân quân tự vệ ở tất cả các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện, đồn điền, phường, xã...
Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Đáp lời kêu gọi ủng hộ đồng bào Nam bộ kháng chiến của Chính phủ, tuổi trẻ cùng các tầng lớp khác ở Quảng Trị luôn hướng về Nam, nguyện sát cánh cùng "tuyến đầu" chống đế quốc Pháp xâm lược. Đại đội "Nam tiến" được thành lập ngay, gồm 115 cán bộ, chiến sĩ (hầu hết là đoàn viên, thanh niên), đại đội lên đường tiến vào Nam bằng tàu hỏa (ngày 26-9-1945). Khắp nơi tổ chức mít tinh, biểu tình ủng hộ Nam Bộ kháng chiến.
Phong trào tình nguyện giết giặc ngày càng trở nên sôi nổi, mạnh nhất là từ cuối tháng 10-1945, khi một lực lượng quân đội Pháp ở Trung Lào mở cuộc hành quân đánh vào miền Tây Quảng Trị, nhiều học sinh đang tuổi thiếu niên xung phong đi làm liên lạc, nhiều nữ thanh niên tự nguyện gia nhập lực lượng tự vệ hoặc đi làm tiếp tế, cứu thương trong các lực lượng vũ trang. Tất cả thanh niên gác việc riêng, lo việc nước.
Về tình hình tổ chức, thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ toàn tỉnh (diễn ra trong hai ngày 10 và 11-9-1945), dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Tỉnh ủy mà trực tiếp là đồng chí Đặng Thí - Bí thư Tỉnh ủy, Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh Quảng Trị được chính thức thành lập vào cuối tháng 9 năm 1945. Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cứu quốc Quảng Trị lâm thời do Thường vụ Tỉnh ủy chỉ định gồm có: Hà Xuân Mỹ, Hồ Ngọc Tích, Trương Công Kỉnh, Trần Nguyên Thảng... Đồng chí Hà Xuân Mỹ giữ chức Bí thư Tỉnh Đoàn(1).
Sự chỉ đạo công tác Đoàn ở Quảng Trị từ đây được thông suốt từ Trung ương đến tỉnh, huyện và cơ sở. Sự kiện này là một bước ngoặt quan trọng về mặt tổ chức có tác động mạnh đến sự chuyển biến hoạt động của Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi Quảng Trị trong thời gian tới.
Sau Hội nghị thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh, cán bộ Đoàn cấp tỉnh cũng như cấp huyện đều về bám cơ sở, ban ngày đi sâu tìm hiểu tình hình thanh, thiếu nhi, hướng dẫn và động viên thanh, thiếu nhi cùng các tầng lớp nhân dân xây dựng đời sống mới ở cơ sở; ban đêm tổ chức thanh thiếu nhi sinh hoạt, biểu diễn văn nghệ ở các địa điểm tập trung tại nhà trường, đình, chùa, nhà thờ hoặc "đốt lửa trại". Qua đó, tập trung được đông đảo nhân dân để tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và Mặt trận, đặc biệt phát hiện được số thanh niên đã trải qua thử thách, rèn luyện trong Cách mạng Tháng Tám, đi tiên phong trong các cuộc biểu tình thị uy, cướp chính quyền ở huyện lỵ, tỉnh lỵ đủ tiêu chuẩn để tiến hành làm thủ tục kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Nhờ vậy, sau một thời gian vài ba tháng, số lượng đoàn viên, thanh niên Cứu quốc ở tỉnh tăng lên gấp bội so với trước, tổ chức cơ sở Đoàn (chi đoàn) được thành lập khắp các xã...
Đồng chí Hà Xuân Mỹ cùng với các đồng chí trong Tỉnh Đoàn đang tích cực triển khai công tác của Đoàn ở các địa phương trong tỉnh thì được cấp trên điều động vào Huế, cùng với đồng chí Trần Hồng Chương chuẩn bị Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc xứ Trung Bộ. Tại Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc xứ Trung Bộ, đồng chí Hà Xuân Mỹ được bầu vào Ban Thường vụ Ban Chấp hành xứ Đoàn Thanh niên Cứu quốc Trung Bộ và được phân công đi kiểm tra phong trào thanh niên ở các tỉnh thuộc Trung Bộ(1).
Sau một thời gian chuẩn bị, được sự lãnh đạo của Thường vụ Tỉnh ủy và được sự chỉ đạo của Ban Chấp hành xứ Đoàn Trung Bộ, Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh Quảng Trị mở Đại hội đại biểu tại làng Cổ Thành (Triệu Phong) trong tháng 12-1945(1). Sau khi đánh giá tình hình hoạt động của Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi trong tỉnh trong thời gian từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay, Đại hội đã bàn phương hướng hoạt động, trong đó nhấn mạnh: Đoàn viên, thanh niên tỉnh ta phải đi đầu trong phong trào thực hiện Chỉ thị kháng chiến, kiến quốc của Thường vụ Trung ương Đảng (ra ngày 25-11-1945), tiếp tục tích cực thực hiện nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, trước mắt đoàn viên, thanh niên phải tích cực tham gia các ngày hội: Bầu cử Quốc hội (6-01-1946), bầu cử Hội đồng Nhân dân các cấp trong tỉnh (17-02-1946). Cuối cùng, Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ nhất đã bầu Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn gồm 5 ủy viên: Trần Nguyên Thảng (Việt Tú), Trần Trọng Hoãn (Trần Trọng Tân), Phan Song, Trương Quang Diệu, Hoàng Ngọc Quang. Đồng chí Trần Nguyên Thảng được bầu làm Bí thư Tỉnh Đoàn khóa thứ nhất.
Thời gian cuối tháng 12-1945 đến 5-01-1946, dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn, đoàn viên, thanh niên ở các huyện, thị xã đã đi đầu trong việc tổ chức tuyên truyền cho toàn thể các tầng lớp nhân dân hiểu rõ ý nghĩa to lớn của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên, bầu Hội đồng Nhân dân các cấp trong tỉnh bằng phổ thông đầu phiếu không phân biệt nam, nữ, giàu nghèo, tôn giáo. Mọi người dân "từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền bầu cử và ứng cử. Quốc dân Đại hội do nhân dân tự nguyện bầu ra là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước cách mạng, thay mặt nhân dân định ra Hiến pháp"(1). Trước ngày bỏ phiếu, Mặt trận Việt Minh ở các khu vực đã họp cử tri phổ biến lời kêu gọi đồng bào cả nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh (5-01-1946). Lời kêu gọi viết: "Ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình"... "Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng: Dân Việt Nam ta đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chống bọn thực dân; kiên quyết tranh quyền độc lập..."(2).
Ngày 6-01-1946, mọi cử tri đang ở lứa tuổi thanh niên hăng hái, nô nức đi bầu cử đại biểu Quốc hội. Các đại biểu do Mặt trận Việt Minh giới thiệu như: Lê Thế Hiếu, Đặng Thí, Trần Mạnh Quý, đều được sự tín nhiệm tuyệt đối của tuổi trẻ và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.
Tiếp đến, ngày 17-02-1946, Quảng Trị tiến hành bầu cử Hội đồng Nhân dân tỉnh và Hội đồng Nhân dân xã, phường. Kết quả có nhiều nam, nữ đoàn viên, thanh niên Cứu quốc ở cơ sở được bầu vào Hội đồng Nhân dân các cấp.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị toàn tỉnh (tháng 3-1946), dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh đã mở đợt sinh hoạt chính trị trong đoàn viên, thanh niên làm cho mọi người thấy rõ những đóng góp tích cực của tuổi trẻ Quảng Trị và nhân dân Quảng Trị trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội - quốc phòng - an ninh đã góp phần cùng cả nước vượt qua được những khó khăn, thử thách ban đầu tưởng như không thể vượt qua nổi; đồng thời nhận rõ: "Muốn hoàn toàn giải phóng cho Tổ quốc phải chống chủ nghĩa thực dân". Đoàn viên Thanh niên Cứu quốc ở các cơ sở đi đầu trong việc tuyên truyền giải thích sâu rộng trong quần chúng nhân dân hiểu rõ chủ trương "hòa để tiến" của Đảng ta là đúng, kiên quyết chống lại các xu hướng "tả", hữu khuynh, chống biểu hiện bi quan, dao động hoặc chủ quan mất cảnh giác trong việc thi hành "Hiệp định sơ bộ 6-3"; đề phòng thực dân Pháp bội ước, phải tiếp tục chuẩn bị để kháng chiến lâu dài, kín đáo, thực lực về quân sự vẫn duy trì và phát triển...; thực hiện sách lược khôn khéo, mềm dẻo, nhằm đuổi mau quân Tưởng về nước....
Sau đợt sinh hoạt chính trị, ngoài việc tiếp tục tòng quân, luyện tập quân sự; hàng vạn đoàn viên, thanh niên trong tỉnh tham gia các đội sản xuất, cùng với nông dân lao động của các đội sản xuất ở vùng đồng bằng, tích cực chuẩn bị các khu căn cứ kháng chiến của làng, của xã, của huyện...
Tháng 6-1946, Tổng Đoàn Thanh niên Việt Nam - Mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên đã ra đời do Đoàn Thanh niên Cứu quốc làm nòng cốt(1). Theo tinh thần đó các cơ sở Đoàn cũng như công tác Đoàn và phong trào thanh, thiếu nhi phát triển mạnh ở hầu khắp các công sở, các đơn vị bộ đội, các trường học, làng xã, phường, đường phố ở tỉnh Quảng Trị.
Cùng lúc này, thực hiện âm mưu thâm độc của thực dân Pháp, các tổ chức gián điệp tăng cường hoạt động. Chúng tung người, tung tiền, móc nối bọn tay sai cũ của Pháp còn ẩn náu ở các nơi trở lại hoạt động chống phá cách mạng, chúng tuyên truyền xuyên tạc: "Việc ta ký Hiệp định sơ bộ 6-3 là bán nước", nhằm gây chia rẽ giữa Đảng, Chính phủ ta với nhân dân ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đoàn viên, thanh niên trong các lực lượng vũ trang, nhất là trong lực lượng an ninh có nhiệm vụ nắm tình hình bọn hoạt động phá hoại và đã kịp thời trấn áp, phá tan các tổ chức Việt quốc và bọn phản động đội lốt tôn giáo âm mưu bạo loạn ở Nam Đông, Nam Tây, Vạn Kim, Nhan Biều...
Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng bộ Quảng Trị lần thứ nhất vẫn được triệu tập từ 28 đến 30-6-1946. Đại hội tập trung phân tích đánh giá tình hình, thấy bộ mặt xâm lược của thực dân Pháp ngày càng lộ rõ: Bằng những hành động trắng trợn vi phạm Hiệp định sơ bộ, Pháp ráo riết chuẩn bị mở rộng chiến tranh ra cả nước... Khi quân Tưởng rút, phần lớn bọn tay sai chạy theo chúng, nhưng còn một số khá đông thay thầy đổi chủ ở lại làm tay sai cho Pháp. Âm mưu thâm độc nhất và cũng là kế hoạch mạo hiểm nhất của chúng là câu kết với Pháp nhằm lật đổ Chính phủ ta. Trước tình hình đó, Đại hội ra Nghị quyết: Ta phải khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa; thành lập Hội Liên Việt tỉnh, phát triển các đoàn thể: Thanh niên, Phụ nữ...
Sau Đại hội, 80 đoàn viên, thanh niên dân quân, tự vệ thuộc hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng được tuyển, bổ sung vào đại đội Lê Hồng Phong. Đại đội Lê Hồng Phong là tiền thân của bộ đội địa phương Quảng Trị, có nhiệm vụ vừa phát triển lực lượng qua các đợt thanh niên tòng quân, vừa hướng dẫn anh chị em thanh niên dân quân tự vệ ở các huyện và các xã, phường, cơ quan, vừa công tác, sản xuất tự túc, đồng thời luôn luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu khi Pháp phản bội Hiệp định sơ bộ, gây chiến tranh...
Tháng 7-1946, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất, Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh đã tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong đoàn viên, thanh niên toàn tỉnh. Qua đợt học tập, mọi đoàn viên và thanh niên thấy rõ: Quân và dân ta nghiêm chỉnh thi hành các điều khoản trong Hiệp định sơ bộ 6-3; trái lại, thực dân Pháp với bản chất hiếu chiến và dã tâm xâm lược, đã chà đạp những điều khoản đã ký với ta. ở phía Tây Quảng Trị, giặc Pháp đã tổ chức một đợt tấn công đánh bật lực lượng liên quân Việt - Lào, áp sát biên giới, đưa quân chốt giữ các vị trí quan trọng hai bên trục đường 9. ở miền Nam, quân Pháp không những không ngừng bắn mà tiếp tục hành quân càn quét "bình định" xúc tiến việc thành lập "Chính phủ lâm thời của Nam kỳ". ở miền Bắc, quân Pháp chiếm đóng thêm nhiều nơi ngoài quy định của Hiệp định sơ bộ. Chúng âm mưu tìm cách trì hoãn, kéo dài cuộc thương lượng ở Fôngtennơblô (khai mạc vào ngày 6-7-1946). Chúng trắng trợn triệu tập "Hội nghị Liên bang Đông Dương" ở Đà Lạt vào ngày 01-8-1946 trong khi cuộc đàm phán giữa ta và Pháp đang tiến hành. Ngay trong đợt sinh hoạt chính trị, tuổi trẻ và nhân dân Quảng Trị đã tổ chức mít-tinh, biểu tình cực lực phản đối hành động xâm lược của đế quốc Pháp, càng ra sức củng cố xây dựng lực lượng cách mạng, đẩy mạnh sản xuất, quyết tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quảng Trị lần thứ nhất.
Trong dịp kỷ niệm một năm ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh (02-9-1946), ủy ban Hành chính tỉnh đã tổ chức triển lãm tại thị xã Quảng Trị. Cuộc triển lãm đã giới thiệu thành tựu trên các mặt kinh tế - xã hội.
Trên mặt trận sản xuất: Công điền, công thổ được chia lại một cách công bằng cho mọi công dân, không phân biệt nam nữ; toàn tỉnh đã huy động hàng vạn ngày công chủ yếu là của đoàn viên, thanh niên trong tỉnh làm thủy lợi: Đắp đập Lá Hẹ, Cánh Hòm, Chợ Cầu, đào sông Ngô Xá - La Duy, đào ngòi Duân Kinh, đắp đê chống lũ ở các cánh đồng: Cu Hoan, Diên Sanh, Trường Sanh... Kết quả về diện tích gieo cấy và sản lượng lương thực đều tăng hơn so với trước. Nạn đói ở Quảng Trị chấm dứt.
Trên mặt trận giáo dục, sau một năm toàn tỉnh đã thanh toán xong nạn mù chữ. Các lớp học phổ thông tiểu học ở thị xã, tỉnh lỵ cũng như ở các thị trấn, các khu vực dân cư trong tỉnh đều khai giảng đúng thời gian quy định, thu hút số lượng con em nhân dân lao động đến trường đông hơn trước rất nhiều. Trong Tuần lễ vàng, riêng vàng toàn tỉnh đã bỏ vào "Quỹ độc lập" của Chính phủ được 4kg vàng mười.
Trong niềm tự hào phấn khởi với những thành tựu đã đạt được (có sự đóng góp xứng đáng của hàng ngàn đoàn viên, thanh niên Cứu quốc và hàng vạn thanh niên công nhân, nông dân, tiểu tư sản), tuổi trẻ và nhân dân Quảng Trị đã góp phần cùng cả nước đưa cuộc cách mạng của nước ta từ chỗ ở trong thế "ngàn cân treo sợi tóc" đã chuyển sang một thế vững chắc sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.
Trước khả năng hòa hoãn giảm dần, khả năng chiến tranh lan rộng, ngày 14-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp một bản "Tạm ước" với thiện chí đẩy lùi và ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, mong muốn giải quyết với Pháp hướng con đường thương lượng, nhưng thực dân Pháp đã bội ước và ngày càng lấn tới.
Ngày 19-10-1946, Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì. Xuất phát từ nhận định: "Không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp"(1). Hội nghị đề ra chủ trương và một số biện pháp thiết thực cả về tư tưởng và tổ chức để quân và dân cả nước sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu chống Pháp.
Sau khi quán triệt Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc, Hội nghị cán bộ Đảng toàn tỉnh Quảng Trị họp vào cuối tháng 10-1946, thống nhất đề ra nhiệm vụ:
• Tăng cường Ban Chỉ huy tự vệ các cấp, tổ chức cuộc diễn tập chiến đấu trong toàn tỉnh.
• Tiến hành phá hoại quốc lộ số 1, quốc lộ số 9, đường xe lửa, phá hoại các ngôi nhà xây dựng kiên cố ở thị xã, thị trấn, xây dựng các tuyến phòng ngự.
• Di chuyển công binh xưởng từ Như Lê (Hải Lăng) ra Hảo Sơn (Gio Linh).
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ toàn tỉnh, với tinh thần: "nêu cao ý chí của thanh niên, nguyện chiến đấu, hy sinh đến cùng chống thực dân Pháp xâm lược", tất cả nam nữ thanh niên ở các cơ sở đều tham gia dân quân tự vệ, làm nòng cốt trong việc phá hoại cầu, đường, đào chiến hào, lập tuyến phòng ngự quanh tỉnh lỵ và các huyện lỵ: Hải Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh, Khe Sanh - Hướng Hóa.
Trong "công việc khẩn cấp bây giờ" (viết ngày 5-11-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Ta phải hiểu và phải cho dân hiểu rằng cuộc kháng chiến sẽ rất gay go, cực khổ. Dù địch thua đến chín mươi chín phần trăm nó cũng ráng sức cắn lại. Vì nó thất bại ở Việt Nam thì toàn bộ cơ nghiệp đế quốc nó sẽ tan hoang". Vì vậy toàn dân và toàn quân ta phải: "tổ chức du kích khắp nơi, tăng gia sản xuất khắp nơi. Dù phải rút khỏi các thành phố, ta cũng không cần. Ta sẽ giữ tất cả thôn quê". Người khẳng định: “Cuộc kháng chiến sẽ gay go, lâu dài, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi”. "Cố ráng sức qua khỏi mùa đông lạnh lẽo thì ta gặp mùa xuân".
Pháp không chịu ngừng bắn ở miền Nam theo quy định trong Tạm ước (14-9). Chúng đánh chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn ngày 20-11, bịt hai cửa ngõ đường thủy và đường bộ vào Việt Nam. Tiếp đó, chúng đổ thêm quân lên Đà Nẵng. Những hành động đó báo hiệu cuộc chiến tranh toàn cục đã gần kề...
Trước tình hình đó, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Tỉnh Đoàn Thanh niên Cứu quốc Quảng Trị chủ trương động viên toàn thể đoàn viên, thanh niên trong các lực lượng tự vệ sẵn sàng chiến đấu; lực lượng đoàn viên, thanh niên ở các làng xã lên phương án sơ tán dân lên vùng tiền chiến khu, lực lượng đoàn viên, thanh niên ở cơ quan lên phương án di chuyển máy móc, hồ sơ tài liệu lên chiến khu khi có lệnh...
Thực tế cho thấy khả năng hòa hoãn không còn. Địch đã công khai tuyên bố chúng sẽ hành động sáng 20-12 nếu Chính phủ ta khước từ những điểm nêu trong tối hậu thư của chúng (đã gởi cho ta). Ngày 18-12-1946, Thường vụ Trung ương họp ở Vạn Phúc (Hà Tây) hạ quyết tâm phát động toàn dân kháng chiến và quyết định “đánh trước để giành chủ động"(1).
Chấp hành Nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng, 9 giờ tối ngày 19-12-1946 bản Mệnh lệnh toàn quốc kháng chiến được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Bản mệnh lệnh kêu gọi: "Bọn thực dân Pháp đã bội ước, chúng liên tiếp tấn công Thủ đô Hà Nội. Tổ quốc đang lâm nguy. Quân đội, dân quân du kích toàn quốc hãy nhất tề đứng lên giết giặc cứu nước"(2).
II. TUỔI TRẺ QUẢNG TRI HƯỞNG ỨNG LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN CỦA BÁC HỒ, ANH DŨNG CHIẾN ĐẤU CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ CAN THIỆP MỸ (20-12-1946 - 20-7-1954)
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngày 20-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, kêu gọi đồng bào cả nước: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc...."
Đáp lời kêu gọi của Bác Hồ, tuổi trẻ Quảng Trị cùng toàn dân nhất tề đứng lên kháng chiến cứu nước. Trong những ngày cuối tháng 12-1946 và đầu tháng 1-1947, đoàn viên, thanh niên ở các địa bàn cùng với lực lượng thanh niên tự vệ phối hợp với Vệ quốc quân đào hào, đắp ụ, dựng chướng ngại vật dọc quốc lộ số 1, số 9, các đường phố lớn trong thị xã tỉnh lỵ, phá cầu cống, gấp rút hoàn thành các tuyến phòng ngự quanh thị xã Quảng Trị, quanh các thị trấn, cắm cọc ngăn sông, triệt để phá hoại các nơi mà địch có thể lợi dụng trú quân, đóng đồn bốt. Lực lượng thanh niên tự vệ của các cơ quan đóng ở tỉnh lỵ, các huyện lỵ, làm nhiệm vụ cấp tốc di chuyển phương tiện làm việc, kho tàng nguyên liệu, lương thực, thực phẩm lên các khu căn cứ hoặc đào hầm cất giấu tại chỗ....
Những việc làm tích cực đó về sau đã có tác dụng ngăn chặn, hạn chế các mũi tiến công của địch bằng đường bộ, đường thủy hoặc gây khó khăn thiếu thốn cho địch trong những ngày đầu kháng chiến nhất là về lương thực, thực phẩm....
Ngày 10-01-1947, quân Pháp ở vùng biên giới Việt Lào bắt đầu mở đợt tiến công đánh chiếm Khe Sanh, Lao Bảo, đường 9. Địch dùng lực lượng mạnh bộ binh, cơ giới, máy bay để tấn công, nhưng trước sự đánh trả quyết liệt của quân dân và thanh niên Quảng Trị, địch phải mất 38 ngày mới vượt qua được đoạn đường 82km (từ Lao Bảo đến Đông Hà). Ta đã thực hiện được chủ trương tiêu hao gần 300 tên địch, ngăn chặn địch từng bước làm cho địch không thực hiện được âm mưu tiến nhanh về giải phóng cho quân Pháp đang bị bao vây ở Huế. Địch buộc phải đổ quân từ vùng biển Phú Lộc lên. Sau khi giải vây Huế, giặc Pháp đánh thọc ra Bắc Thừa Thiên, Nam Quảng Trị...
ở thị xã Quảng Trị, thực hiện phương châm "tiêu thổ kháng chiến", người già, phụ nữ, trẻ em ở nội thị và ngoại thị đều tản cư lên Phong An, Hải Đạo... Hầu hết đoàn viên, thanh niên thị xã cùng với lực lượng tự vệ, bộ đội trung đoàn Thiện Thuật, bộ đội khu IV bố trí trận địa, bom giật, bom treo... cả thị xã như một cái bẫy khổng lồ chờ địch.
5 giờ 30 phút ngày 16-02-1947, sau loạt pháo của địch bắn vào thành vừa dứt, bộ binh địch xông vào thị xã, lập tức bị súng của bộ đội và thanh niên tự vệ thị xã chống trả. Quân địch phải khựng lại dưới lưới lửa dày đặc của ta. Mìn, địa lôi chớp sáng, nhiều loại bom mìn từ trên cây chụp xuống, từ dưới đất tung lên, dồn giặc Pháp và bọn tay sai vào chân tường thành, gần 100 tên bị diệt, hàng chục tên khác bị thương. Cuối cùng do tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía địch cả quân số và phương tiện cũng như trang bị vũ khí nên các chiến sĩ ta chấp hành lệnh của Ban Chỉ huy, trực tiếp là đồng chí Hùng Việt, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thiện Thuật, bộ đội và thanh niên tự vệ ta vừa chiến đấu, vừa vượt qua vòng vây dày đặc của kẻ thù ra ngoài thị xã để củng cố và xây dựng. Đại đội ở Tri Bưu chống cự với địch suốt cả ngày, mãi đến 16 giờ mới rút về An Tiêm, 20 chiến sĩ trẻ của Trung đoàn Thiện Thuật và tự vệ thị xã "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh" đã xung phong ở lại, dùng lựu đạn diệt thêm nhiều địch, bẻ gãy nhiều đợt tiến công và cuối cùng đã hy sinh anh dũng. Các tổ cảm tử khác gồm đảng viên trẻ, đoàn viên, thanh niên của bộ đội và tự vệ thị xã cố thủ trong các hầm bí mật. Đến ngày thứ ba, thứ tư (sau trận đánh 16-2), bom của ta vẫn còn nổ trong thị xã, hơn 200 tên địch chết và hàng trăm tên khác bị thương"(1).
Thắng lợi bước đầu khi giặc Pháp trở lại đánh chiếm nước ta tại mặt trận đường 9 và thị xã tỉnh lỵ Quảng Trị đã có tác dụng củng cố lòng tin của tuổi trẻ và các tầng lớp khác ở Quảng Trị vào sự lãnh đạo của Đảng, vào lực lượng vũ trang cách mạng; động viên khích lệ quân dân và thanh niên ở các địa bàn vượt qua khó khăn ác liệt, tổ chức đánh địch trong thời gian tới.
Ngày 17-02-1947, Thường vụ Tỉnh ủy họp mở rộng tại làng Lại An (Gio Linh). Sau khi đánh giá tình hình địch, ta, Hội nghị quyết định bám đất, bám dân giữ vững cơ sở, khôi phục lực lượng cách mạng ở vùng địch chiếm đóng, kiên quyết phá tan kế hoạch lập ngụy quyền, ngụy quân của địch.
Thực hiện Nghị quyết của Thường vụ Tỉnh ủy, đêm 20-01-1947, một số chiến sĩ trẻ trong lực lượng vũ trang của huyện Triệu Phong đột nhập vào trướng phủ, ném lựu đạn vào nơi đóng quân của địch, diệt một số tên. Cùng đêm đó, một số chiến sĩ trẻ khác tấn công nhà Thương Chánh (chợ Sãi), giết 6 tên Pháp, phá một xe Jeep. Ngày 21-02-1947, một đội biệt động gồm đoàn viên, thanh niên hoạt động ở Phú Long (Hải Phú) phục kích bắn chết 3 tên Pháp. Ngày 12-3-1947, một chiếc xe Jeep của địch từ Huế theo quốc lộ số 1 ra thị xã Quảng Trị, khi ngang qua làng Đại Nại, bị một số thanh niên tự vệ của xã Hải Quang phục kích, giết 2 tên Pháp, 1 sĩ quan ngụy... Chiến công đầu đó đã làm cho quân dân nức lòng, các chiến sĩ trẻ thêm tự tin nâng cao quyết tâm đánh địch.
Sau một thời gian dừng lại ở thị xã Quảng Trị, Đông Hà củng cố lực lượng, ngày 27-3-1947, giặc Pháp chia làm hai cánh đánh chiếm Gio Linh. Ngày 30-3-1947, chúng đánh chiếm Vĩnh Linh, dọc đường tiến quân, ở đâu giặc Pháp cũng vấp phải sự kháng cự của quân dân và thanh niên tỉnh ta. Song trong điều kiện lực lượng vũ trang vừa mới thành lập, chưa có kinh nghiệm, lại bị thiếu thốn mọi bề, nhất là về vũ khí, phương tiện chiến tranh, nên ta vừa chiến đấu, vừa rút lui để bảo toàn lực lượng; vừa chiến đấu vừa tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện: "Vườn không, nhà trống" trước khi giặc Pháp kéo đến chiếm đóng.
Đầu tháng 4-1947, cơ quan lãnh đạo của Đảng và các đoàn thể cấp tỉnh từ Tây Vĩnh Linh quay trở lại Tây Triệu Hải. Ngày 14-4-1947, sau khi kiểm điểm tình hình, Tỉnh ủy quyết định thiết lập chiến khu Ba Lòng (xã Triệu Nguyên), phát động phong trào trừ gian, phá hội tề ở vùng địch kiểm soát.
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, một số đồng chí trong Tỉnh Đoàn như Trần Trọng Hoãn(1) được Tỉnh ủy điều sang chỉ huy đội biệt động đường 9, Phan Song được phân công về làm Phó Bí thư huyện Đảng bộ Gio Linh, các đồng chí Đặng Đồng, Trương Quang Diêu bổ sung vào Huyện ủy Triệu Phong... Số ủy viên trong Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn Thanh niên Cứu quốc Quảng Trị còn lại, tập trung chỉ đạo phong trào thanh niên, tổ chức tuần tra canh gác, giúp dân thu hoạch vụ mùa tháng tư, sản xuất vụ "trái" 1947. Lực lượng đoàn viên, thanh niên ở cơ quan cấp huyện, cấp tỉnh và ở xưởng in, công binh xưởng Đội Quyên bám trụ ở tiền chiến khu hoặc đóng ở chiến khu, ngoài việc bảo đảm công tác chuyên môn, đêm đến bí mật trở về vùng tạm bị địch chiếm cùng nhân dân sản xuất, thu hoạch lúa màu góp phần giải quyết một phần lương thực, thực phẩm cho cơ quan, đơn vị, đồng thời đi đầu trong việc tổ chức sản xuất rau màu ở vùng tiền chiến khu, chiến khu để tự túc... Trong đó có Huyện Đoàn Triệu Phong đã tổ chức trại sản xuất của thanh niên tại Đá Nổi (xã Triệu Nguyên) do đồng chí Nguyễn Như Nguyện làm trại trưởng, với mục đích của trại là tập họp một số thanh niên, thiếu niên (con em của một số cán bộ hoạt động ở vùng tạm chiến) vừa tăng gia sản xuất, chăn nuôi, tự túc và đóng góp một phần vào kinh phí hoạt động của Tỉnh Đoàn, vừa tổ chức học tập văn hóa cho đoàn viên, thanh thiếu niên (giữa năm 1947 có 50 học viên), về sau số lượng đoàn viên, thanh thiếu nhi ở trại sản xuất ngày càng tăng lên. Đến năm 1948, trại sản xuất của thanh niên Triệu Phong chuyển thành trại sản xuất của thanh niên toàn tỉnh và do Tỉnh Đoàn quản lý(1).
Với đường lối thanh vận đúng đắn, Đảng ta luôn luôn tin tưởng ở tinh thần yêu nước, ý chí chống giặc ngoại xâm của thanh niên. Tháng 4-1947, Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương để bàn về công tác vận động thanh niên trong công cuộc kháng chiến. Hội nghị cán bộ Trung ương chỉ rõ: "Nhiệm vụ thiết thực của thanh niên trong thời kỳ này là tham gia bộ đội, dân quân để tác chiến, giúp đỡ việc tản cư, bình dân học vụ và tiểu học, đoàn kết các hạng thanh niên, động viên thanh niên ra cứu nước"(2).
Dưới ánh sáng của Hội nghị cán bộ Trung ương, công tác vận động thanh thiếu nhi ở Quảng Trị được đẩy mạnh hơn trước. Tất cả thanh, thiếu nhi đều hướng theo mục đích kháng chiến, kiến quốc. Chẳng hạn thanh niên ở thị xã, thị trấn, vùng tạm chiếm một lòng hướng về cách mạng, cương quyết không đi lính cho Pháp, không vào "Bảo vệ quân", "Hương vệ", "Hương binh", "Không hợp tác với Pháp", "Không đưa đường dẫn lối cho giặc Pháp càn quét, cướp của giết người”. Đoàn viên, thanh niên trong dân quân, tự vệ giữ vai trò nòng cốt trong các cuộc chống địch càn quét. Sau mỗi trận càn, đoàn viên, thanh niên cũng là lực lượng đi đầu trong việc giúp dân giải quyết thương vong, dựng lại nhà cửa... mau chóng ổn định đời sống cho nhân dân...
Có thể nói, trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, đoàn viên, thanh niên là lực lượng chủ yếu góp phần cùng nhân dân trong tỉnh và cả nước làm thất bại âm mưu "đánh nhanh, thắng nhanh" của giặc Pháp.
Tháng 1-1948, Tỉnh Đoàn mở Hội nghị cán bộ Đoàn toàn tỉnh tại Khe Su (xã Triệu Nguyên). Sau khi quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quảng Trị lần thứ 2 (11-1947), Hội nghị cán bộ Đoàn toàn tỉnh chỉ rõ: Trong thế giằng co của một chiến trường địch hậu, giặc Pháp tập trung lực lượng đánh phá trên các địa bàn nhất là ở đồng bằng, hết đợt này đến đợt khác nhằm dập tắt phong trào kháng chiến của nhân dân ta ngay từ đầu, với âm mưu dùng Bình-Trị-Thiên tấn công ra vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh... Song chúng đã bị quân và dân tỉnh ta cùng quân và dân hai tỉnh: Thừa Thiên, Quảng Bình chặn đánh quyết liệt, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Quân và dân Quảng Trị vẫn làm chủ đồi núi và nhiều nơi ở đồng bằng, bảo đảm liên hoàn giữa đồng bằng với miền núi, nối chiến khu Quảng Trị với chiến khu của hai tỉnh: Thừa Thiên, Quảng Bình.
Thành tựu đó nói lên sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo đường lối chủ trương của Đảng, Chính phủ và Mặt trận vào đặc điểm tình hình của địa phương, sự nỗ lực phi thường của toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh, trong đó có sự đóng góp to lớn của tuổi trẻ Quảng Trị.
Trên cơ sở đó, Hội nghị cán bộ Đoàn toàn tỉnh nhất trí Nghị quyết: Toàn Đoàn phải nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác thanh niên, tập trung thực hiện Chỉ thị (tháng 9-1947) của Trung ương Đảng: "Công tác vận động thanh niên đều hướng theo mục đích kháng chiến, kiến quốc. Động viên thanh niên phải tuân theo tính chất, năng lực của từng giới như thanh niên lao động nằm trong công binh xưởng tăng gia sản xuất để kháng chiến, thanh niên trí thức học tập và sáng tạo để kháng chiến kiến quốc, thanh niên nông thôn tham gia du kích, dân quân, xung phong giết giặc cứu nước"(1).
Về tổ chức, Hội nghị bổ sung 6 đồng chí vào Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn và phân công: Trần Nguyên Thảng: Bí thư; Lê Văn Bằng và Dương Quang Thuận: ủy viên Thường vụ. Các ủy viên chấp hành gồm có: Dương Tường: phụ trách văn hóa, văn nghệ; Nguyễn Duy Bình: Phụ trách Bình dân học vụ Tỉnh Đoàn; Nguyễn Bá Linh: Bí thư Huyện Đoàn Hải Lăng; Lê Mạnh Thái: Bí thư Huyện đoàn Triệu Phong; Hoàng Lữ Quang: Bí thư Huyện Đoàn Cam Lộ; Nguyễn Như Nguyện: Phụ trách trại sản xuất; Nguyễn Quang Tạo: Phụ trách thanh niên công giáo; Phan Thị Mỹ Công: Phụ trách nữ công.
Hội nghị chủ trương: Tích cực củng cố kiện toàn Ban Chấp hành Đoàn ở cơ sở, mở đợt sinh hoạt chính trị học tập cuốn sách "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của Tổng Bí thư Trường Chinh nhằm giúp tất cả đoàn viên, thanh niên trong tỉnh nhận rõ: Mục đích cuộc kháng chiến của nhân dân ta là tiêu diệt lực lượng địch trên đất nước ta, đè bẹp ý chí xâm lược của địch, lấy lại toàn bộ đất nước. Cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta chống lại thực dân Pháp xâm lược để giành độc lập và tự do là một cuộc chiến tranh tự vệ, chiến tranh giải phóng, chiến tranh chính nghĩa. Cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài và gian khổ, bao gồm các mặt quân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa, trong đó đấu tranh vũ trang là hình thức chủ yếu...
Kết quả sau đợt học tập, trình độ nhận thức của đoàn viên, thanh niên Cứu quốc, của các tầng lớp thanh niên trong tỉnh được nâng lên một bước, một lòng tin tưởng tuyệt đối: "Dưới tay lái tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, con tàu Việt Nam với đoàn thủy thủ dũng cảm của nó, nhất định sẽ tránh được mọi đá ghềnh, vượt cơn sóng cả, để cập bến vinh quang".
Được sự chỉ đạo của Tỉnh Đoàn, Ban Chấp hành Đoàn các cấp được kiện toàn, chú trọng công tác thanh niên, thiếu niên ở cơ sở, góp phần đẩy mạnh phong trào kháng chiến ở từng địa bàn: Tuổi trẻ trong các tiểu đoàn 301 (13), 302 (14), 310 (15) của Trung đoàn 95 (Thiện Thuật) đẩy mạnh tác chiến du kích, tiêu hao sinh lực địch, làm cho địch tiếp tục sa lầy tại chính vùng đất mà chúng cho là an toàn nhất; lực lượng thanh niên dân quân, tự vệ, du kích ở thị xã, thị trấn, vùng tạm chiếm kiên quyết trừng trị bọn Việt gian phản động, vận động nhân dân làm công tác văn hóa, giáo dục, y tế. Phong trào phát triển toàn diện và lên mạnh từ sau chiến thắng Việt Bắc (Thu - Đông 1947), tạo ra bầu không khí hồ hởi, phấn khởi trong tuổi trẻ và các tầng lớp khác, nhất là ở vùng chiến khu Ba Lòng, Hải Đạo, Cùa, vùng tiền chiến khu và vùng chợ Cạn. Lúc này, để kịp thời khắc phục nhược điểm "quan hệ giữa Thanh niên Cứu quốc và Liên đoàn Thanh niên Việt Nam không được quy định rõ ràng, gây ra tình trạng dẫm chân nhau về công tác"(1), Tỉnh Đoàn đã mở lớp bồi dưỡng công tác thanh niên tại thôn Xuân Khê, xã Phong Sơn (nay là xã Triệu ái, huyện Triệu Phong) cho 30 cán bộ Đoàn ở cơ sở thuộc các huyện đồng bằng trong tỉnh. Lớp học do đồng chí Dương Quang Thuận phụ trách. Với tinh thần "Học kinh nghiệm cũ, tiến hành công tác mới", lớp học đã giúp cho cán bộ Đoàn nhận thức sâu sắc: Công tác dân vận phải lấy việc cải thiện đời sống nhân dân làm cốt yếu; hết sức tránh bệnh hẹp hòi, phải gần gũi, thuyết phục, tổ chức, đoàn kết các tầng lớp thanh niên; phải mạnh bạo giao việc, nâng đỡ, dìu dắt thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, học sinh; đặc biệt chú trọng tầng lớp thanh niên công nhân, thanh niên nông dân; thuật vận động quần chúng (nhất là trong vùng địch tạm chiếm) phải linh hoạt.
Về địch, sau thất bại ở Việt Bắc, để tiếp tục chiến tranh, Pháp buộc phải chuyển hướng chiến lược; từ "đánh nhanh thắng nhanh" chuyển sang "đánh kéo dài" với chính sách căn bản là "dùng người Việt đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", từ tập trung quân lực tấn công ồ ạt vào căn cứ hậu phương ta hòng nhanh chóng tiêu diệt đầu não của cuộc kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta, chuyển sang bình định, củng cố vùng tạm chiếm, thi hành chiến lược "chiến tranh tổng lực", đánh phá cơ sở kinh tế, chính trị và lực lượng hậu bị của ta. ở Quảng Trị, từ đầu năm 1948, giặc Pháp liên tục mở các cuộc càn lớn cả ở vùng tiền chiến khu và vùng đồng bằng, gây ra vụ thảm sát hàng ngàn người trong cùng một lúc ở đồng bằng Triệu Hải (3-1948) trong đó có nhiều thanh niên, thiếu niên, nhi đồng.
Thủ đoạn và sự đánh phá quyết liệt của địch đã làm cho một số cơ sở của ta bị vỡ, lực lượng cách mạng bị tổn thất...
"Nhằm khôi phục, củng cố cơ sở, đẩy mạnh hoạt động đánh địch ở vùng đồng bằng, phân Khu ủy Bình-Trị-Thiên kịp thời chỉ đạo, đưa lực lượng về đồng bằng hoạt động, theo phương thức "đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung" trực tiếp tham gia đấu tranh chống phá "bình định", nắm dân, phá tề, trừ gian, chỉnh đốn dân quân, chi bộ xã, chi đoàn xã...(1)
Để trả thù cho hàng ngàn thanh thiếu nhi và đồng bào yêu nước của ta bị địch giết hại ở Quy Thiện, Mỹ Thủy, chợ Cạn, được sự trực tiếp chỉ huy của đồng chí Trần Văn Quang, Chính trị viên Quân khu IV, ngày 7-4-1948, đại đội 87 phối hợp với đại đội 140 (Trung đoàn 95) cùng thanh niên dân quân, du kích địa phương vận động phục kích đánh bại cuộc càn của địch ở làng Đồng Dương (Hải Lăng), làm "thiệt hại nặng hai trung đội địch, bắt sống đồn trưởng, 12 lính Pháp và ngụy binh, thu một súng cối 60 ly, một trung liên, 20 súng trường"(1).
Chiến thắng Đồng Dương đã gây niềm tin tưởng trong tuổi trẻ và các tầng lớp nhân dân (nhất là ở vùng địch tạm chiếm) đối với kháng chiến, đối với cách mạng. Phát huy chiến thắng Đồng Dương, ngày 7-7-1948, tiểu đoàn 302 (Trung đoàn 95) phối hợp với lực lượng thanh niên dân quân, du kích thị xã Quảng Trị phục kích đánh địch vào càn thôn An Đôn (địa bàn đứng chân của Đảng bộ thị xã), diệt 4 tiểu đội địch, bắt 20 tù binh, thu hàng chục súng các loại.(2) ở Hướng Hóa, sau trận phục kích bắn chết 8 tên ngay giữa dòng sông chảy qua làng Miệt, phá tan trận càn của một đại đội địch vào khu căn cứ Hướng Linh, anh em đảng viên, đoàn viên, thanh niên trong tiểu đội bộ đội địa phương huyện cùng với cán Bộ Chính trị ở cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận, cán bộ trong ban "Thượng du vận" tỏa về các làng bản phát động quần chúng nhân dân các dân tộc Vân Kiều, Pacô, xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên, tổ chức Thanh niên Cứu quốc vào dân quân, du kích và liên tiếp thu thắng lợi trong các cuộc chống địch càn quét ở nguồn Rào, A Rồng, A Doa, Mai Lan(1), Bãi Lọ, Phaoraviêng. ở đồn Đập Huyện (Gio Linh), nhân ngày lễ Quốc khánh Pháp (14-7), ta bố trí hai cô gái đẹp mang rượu thịt vào mở tiệc khao quan và lính trong đồn. Chờ khi bọn địch ăn uống no say, các chiến sĩ của tiểu đoàn 302 (trung đoàn 95) dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Đại Hành, đã ập vào đồn bắt gọn cả đại đội địch, trong đó có một quan ba Pháp, thu toàn bộ vũ khí, quân trang quân dụng.(2) ở Vĩnh Linh, đoàn viên Lê Thị Thỏn (22 tuổi) mới cưới chồng, đã tham gia trận đánh vị trí Thủy Cần. Bị địch bắt, bị cưỡng hiếp, rồi bị tra tấn dã man, nhưng chị vẫn không khai với chúng một lời. Chị đã anh dũng hy sinh...(3)
Để động viên toàn dân, toàn quân nâng cao nhiệt tình cách mạng và trí sáng tạo, ra sức thi đua kháng chiến và kiến quốc, ngày 27-3-1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị: "Phát động phong trào thi đua ái quốc".
Ngày 11-6-1948, trong lời kêu gọi thi đua yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì đều cần phải thi đua". Người nói rõ mục đích của phong trào thi đua yêu nước là: "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm". Người kêu gọi toàn dân làm cho mau, làm cho tốt, làm cho nhiều.(4)
Tỉnh Đoàn Thanh niên Cứu quốc Quảng Trị lúc này có đồng chí Trần Nguyên Thảng (Bí thư) và đồng chí Dương Tường (ủy viên Ban Chấp hành) được điều động ra công tác ở Khu Đoàn (khu IV). Đầu năm 1948 đến tháng 4 năm 1948 đồng chí Dương Quang Thuận (ủy viên Thường vụ) được cử giữ chức vụ Quyền Bí thư Tỉnh Đoàn(1) sau đó đồng chí Dương Quang Thuận được Khu Đoàn cử đi học văn hóa, từ tháng 5 năm 1948 đến tháng 11 năm 1948 đồng chí Lê Văn Bằng được đề bạt làm Bí thư Tỉnh Đoàn. Thời gian này, Tỉnh Đoàn đã mở đợt học tập, sinh hoạt chính trị trong đoàn viên và thanh niên, làm cho mọi người thấy rõ mục đích thi đua yêu nước là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công. Để đạt mục đích đó, cuộc vận động thi đua yêu nước đã lấy cải tiến phương pháp làm việc làm nội dung chủ yếu, nhằm đạt những mục tiêu lợi thời gian, đỡ phí sức người, sức của và tài chính mà đạt kết quả cao về năng suất, số lượng và chất lượng; làm việc tích cực hăng hái, không sợ khó khăn gian khổ. Khẩu hiệu thi đua: "Người người thi đua. Ngành ngành thi đua. Ngày ngày thi đua. Ta nhất định thắng. Địch nhất định thua"(2) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, với lời thơ mộc mạc giản dị đã đi vào tâm trí và biến thành hành động cụ thể trong từng ngày, từng giờ của mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên và thanh niên toàn tỉnh...
Hưởng ứng cuộc vận động thi đua yêu nước do Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, Quảng Trị cùng cả nước dấy lên một phong trào thi đua rầm rộ trên tất cả các lĩnh vực. Chẳng hạn như: Đoàn viên, thanh niên... trong Ban Giao thông liên lạc kháng chiến tỉnh, mặc dù thường xuyên bị giặc Pháp càn quét, bắn phá, trụ sở bị địch đốt cháy nhiều lần vẫn nêu cao quyết tâm vượt qua khó khăn, gian khổ, ác liệt, bám và thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn như: Tiếp nhận, chia, chọn, đóng gói, vận chuyển mọi loại tài liệu, công văn, báo chí, hàng hóa đến tận các cơ quan của Đảng, Nhà nước từ tỉnh đến cơ sở và ngược lại; đưa đón cán bộ trong tỉnh từ chiến khu về vùng địch hậu, đưa đón cán bộ của Liên khu IV, của Trung ương từ Bắc vào, Nam ra... một cách kịp thời, không để chậm trễ... Ngoài ra, anh em còn khai phá thêm hai con đường dự bị chạy song song với quốc lộ I (trên địa bàn Quảng Trị) để phục vụ trong những trường hợp đường chính (đường Trường Sơn) tắc nghẽn.
ở xí nghiệp in Quảng Trị, ngoài việc đi đầu trong việc gùi cõng tiếp phẩm, di chuyển cơ quan, làm lán trại, in ấn và phát hành tờ Tin Quảng Trị, tờ báo Tiếng vang, đoàn viên, thanh niên ở đây còn xung phong đi khai thác nguyên vật liệu tại Huế, tại Liên khu IV, đảm bảo nhiệm vụ do Tỉnh ủy, ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh giao phó.
Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc ở xưởng quân giới Hùng Việt (trước đây lấy tên Đội Quyên), dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng, đã thi đua nỗ lực vượt bực, cùng với cán bộ, công nhân của đơn vị, tính đến cuối năm 1948, đã sửa chữa được hàng trăm khẩu súng trường, 130 khẩu trung, đại liên, sản xuất được trên 200 quả bom (bom ba càng, bom cầu vòng) và mìn (làm bẳng vỏ hộp sữa bò với mảnh chai), trên một vạn quả lựu đạn (lựu đạn treo, lựu đạn chày).(1)
Trên mặt trận nông nghiệp, quán triệt quan điểm: "Trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào người ta vẫn phải sản xuất... không có sản xuất, không có hậu phương thì không sao đánh thắng được giặc. Sản xuất phải được coi là một nhiệm vụ chiến đấu, dù có lúc phải đổ máu, phải hy sinh cũng phải bảo đảm sản xuất để phục vụ cho tiền tuyến"(2) và hưởng ứng phong trào Thi đua yêu nước, hàng vạn đoàn viên, thanh niên nông dân trong tỉnh bám ruộng sản xuất. ở đồng bằng thuộc vùng địch tạm chiếm, nhiều chi đoàn phát động phong trào làm đêm (cấy đêm, gặt đêm...), thay đổi giống lúa, tăng vụ..." ở Vĩnh Linh, Đại hội Huyện Đảng bộ lần thứ nhất "chủ trương phải tổ chức lực lượng để trở lại đồng bằng, thực hiện 3 bám: "Bám dân, bám đất, bám địch, vận động nhân dân trở về địa phương; đảng viên trẻ, đoàn viên, thanh niên phải trở về bám cơ sở lãnh đạo, vận động sản xuất và chiến đấu"(3). ở Hướng Hóa, đảng viên, đoàn viên, thanh niên đi sâu đi sát cơ sở, miệng nói tay làm, cùng ăn, cùng ở, cùng hoạt động với các đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pacô nên đã nắm được tâm tư nguyện vọng của họ, đẩy mạnh phong trào sản xuất, xây dựng đời sống mới ở bản. "Ngoài việc cần cù lao động ở nương rẫy, đoàn viên, thanh niên còn cùng các tầng lớp nhân dân các dân tộc khai thác lâm thổ sản làm hàng hóa trao đổi với nhân dân đồng bằng như mây, lá nón, lá tơi, măng, nấm, mật ong, trầm hương..., bước đầu hình thành mạng lưới lưu thông hàng hóa giữa đồng bào Thượng và đồng bào Kinh. Số đồng bào Kinh từ các huyện đồng bằng tản cư lên ở các vùng: Trại Cá, Ly Tông, Ba Lình, A Đăng, Tà Rụt, Tu Pông, Khe Tre đã đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các mặt hàng tiêu dùng như muối, vải, rựa... cho thanh niên và lao động đồng bào các dân tộc, bằng con đường thông qua các tụ điểm trao đổi: Trại Cá, Thác Lo, Đá Nổi, Ba Lòng, Trẩm, Cùa...
Về quân sự, sau thất bại Việt Bắc, giặc Pháp ráo riết bắt thanh niên, phát triển quân ngụy. Xuân - Hè 1948, chúng đẩy mạnh càn quét, "bình định" vùng chúng tạm chiếm, lập hệ thống tháp canh De Latour, thi hành chiến thuật "Cứ điểm nhỏ và đội ứng chiến nhỏ". Đi đôi càn quét nhỏ tiến hành thường xuyên ở vùng tạm chiếm, giặc Pháp mở các cuộc tấn công càn quét lớn đánh vào căn cứ của ta. Tháng 8-1948, chúng càn quét, đánh phá vùng Hòn Linh, Bơợc Lở (chiến khu Hải Đạo - Hải Lăng), với khẩu hiệu: "Đốt sạch, cướp sạch, phá sạch". Bằng hệ thống đồn bốt kết hợp với càn quét, lùng sục, tuần tra, giặc Pháp đã gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất...
"Để phát triển mạnh mẽ chiến tranh du kích, đánh phá âm mưu "bình định" của địch, Trung ương chủ trương phân tán hai phần ba bộ đội chủ lực thành các đại đội độc lập về hoạt động ở các huyện"(1). Thực hiện chủ trương của Trung ương, căn cứ đặc điểm tình hình địa phương, "Ban chỉ huy Trung đoàn 95 xác định: các đại đội độc lập phải tiến sâu vào vùng sau lưng địch, vừa chiến đấu, vừa công tác"(2).
Vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên trong các đại đội độc lập cùng với cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên ở địa phương vùng địch tạm chiếm bám đất, bám dân, cùng ăn, cùng ở, cùng làm, kiên trì giác ngộ từng người dân, gây cơ sở, tổ chức thanh niên, dân quân du kích mật, cùng nhân dân phát triển chiến tranh du kích, xây dựng và mở rộng căn cứ du kích và khu du kích. Có thể nói hết thảy đoàn viên, thanh niên chiến sĩ trẻ của các đại đội độc lập "đều dũng cảm, tận tụy, kiên trung, sẵn sàng xả thân vì sự sống còn của phong trào, của cách mạng. Nhờ vậy chỉ sau một thời gian ngắn, nhiều thôn, xã "trắng" nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm đã trở thành các làng xã chiến đấu. Thanh niên, dân quân du kích được khôi phục. Kết quả của cuộc tổng phá tề Hè - Thu 1948, cùng với kết quả hoạt động quân sự của Trung đoàn 95, phục kích đánh giao thông ở cầu Độc Mạch - Đường 9 (15-7)... Những kết quả thực tế ở Quảng Trị đã minh chứng việc "thực hiện chiến tranh cài răng lược giữa địch và ta đã thu được nhiều thành tích khả quan, có ảnh hưởng tốt trong dân chúng".(1)
Hưởng ứng cuộc vận động thi đua ái quốc, Ty Công an Quảng Trị chủ trương xây dựng một số thanh nữ quen biết nội thị, có nhiệm vụ quan hệ giao dịch với những người làm việc trong lực lượng an ninh ngụy để khai thác tình hình; mặt khác, lợi dụng người hồi cư, công an các huyện cũng xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng trong thanh niên học sinh, tiểu thương ở thị xã tỉnh lỵ Quảng Trị và thị trấn Đông Hà. Lực lượng cơ sở cách mạng đang ở tuổi thanh niên này hoạt động rất dũng cảm. Chẳng hạn trong tháng 7-1948, dưới sự chỉ đạo của công an huyện Triệu Phong; một số thanh niên cơ sở ở thị trấn Đông Hà đã dùng lựu đạn và xăng thiêu hủy 20 trại lính ngụy, một trại lính lê dương, một kho quân trang và một số xe vận tải"(2).
Hội nghị dân quân du kích toàn tỉnh tại chiến khu Ba Lòng vào cuối năm 1948 có hơn 100 đại biểu (đại bộ phận đang ở tuổi thanh niên) dự đã tổng kết, rút kinh nghiệm về các phong trào diệt giặc, trừ gian, phá hội tề; phong trào phá giao thông, tiếp tế của địch, phong trào thanh niên dân quân du kích sản xuất tự túc, học tập văn hóa. Trong các phong trào đó, tuổi trẻ Quảng Trị thực sự là lực lượng đi đầu, làm nòng cốt, "chiến đấu trong những điều kiện khó khăn vô cùng mà họ vẫn không lùi bước. Dân chúng càng ngày càng thêm tin tưởng vào Chính phủ".(1)
Tháng 1-1949, Trung ương Đảng họp Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6. Hội nghị nhận định: Giải phóng quân Trung Quốc trên đà phản công thắng lợi sẽ tiến sát biên giới, do đó, về khách quan sẽ tạo nên thời cơ tốt cho cuộc kháng chiến Việt Nam, vì vậy ta cần nỗ lực chuẩn bị, sẵn sàng đón lấy dịp tốt, tuyệt đối không nên bỏ lỡ cơ hội chiến lược". Hội nghị chủ trương: "Động viên mọi lực lượng tinh thần, vật chất của toàn dân vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc, giành kỳ được độc lập".
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quảng Trị lần thứ 3 được triệu tập tại một địa điểm ở chiến khu Ba Lòng, khai mạc vào ngày 20-3-1949. Trong phần phương hướng nhiệm vụ, Đại hội nêu rõ: "Huấn luyện và trang bị lực lượng bộ đội tập trung của tỉnh, của huyện và thị xã, đủ sức đánh các trận lớn trong giai đoạn tổng phản công; ra sức củng cố, kiện toàn chính quyền cách mạng, bóp chết ngụy quyền; tổ chức bao vây kinh tế địch, xây dựng nền kinh tế của ta; vừa đối phó với địch, gây lòng căm thù địch, vừa xây dựng nếp sống văn hóa mới, chú trọng bình dân học vụ và phát triển phong trào văn nghệ quần chúng, lãnh đạo và vận động nhân dân đấu tranh với địch, giữ làng, lập làng chiến đấu..."(2)
Triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quảng Trị lần thứ 3, Tỉnh Đoàn Thanh niên Cứu quốc Quảng Trị lúc này do đồng chí Hoàng Lữ Quang(1) làm Bí thư (thay đồng chí Lê Văn Bằng đi học văn hóa)(2) đã mở đợt học tập tình hình, nhiệm vụ mới do Đảng đề ra. Đợt học tập này đã làm cho đoàn viên và thanh niên trong Liên đoàn Thanh niên Việt Nam tỉnh Quảng Trị hiểu rõ: "Con bài Vĩnh Thụy là con bài cuối cùng của thực dân Pháp. Nó là dấu hiệu chứng tỏ sự suy yếu và tình trạng nguy ngập của thực dân Pháp ở Việt Nam; đồng thời biểu lộ sự hoang mang, bối rối của đế quốc Mỹ trước cao trào giải phóng dân tộc đang dâng lên ở Đông - Nam châu á. Để hòng gây cho tên bù nhìn một thanh thế cần thiết để thi hành chính sách "Dùng người Việt trị người Việt", thực dân Pháp đang khua chiêng, đánh trống cổ động cho cuộc "hồi loan" của Vĩnh Thụy... Đợt học tập cũng làm cho đoàn viên, thanh niên nhận rõ nhiệm vụ trước mắt là hăng hái tòng quân, xây dựng lực lượng bộ đội địa phương (ở tỉnh một tiểu đoàn, ở mỗi huyện một đại đội...), đoàn viên, thanh niên luôn đi đầu trong việc đối phó với mọi âm mưu, hành động của địch, phá hoại kinh tế địch bằng mọi cách, thanh niên nông dân phải cấy trồng nhiều lúa, màu, bông, bảo vệ mùa, cất giấu lương thực, xây dựng các tổ đổi công để tăng gia sản xuất...
Sau đợt học tập "Tình hình và nhiệm vụ", đoàn viên, thanh niên ở các cơ sở dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Đoàn các cấp đã ra sức thi đua thực hiện những nhiệm vụ chính do Đảng đề ra trong giai đoạn mới.
ở thị xã Quảng Trị, trong dịp thực dân Pháp và tay sai cổ động cho cuộc "hồi loan" của Vĩnh Thụy, số đoàn viên, thanh niên cơ sở ở đây đã tổ chức rải truyền đơn phản đối cuộc "hồi loan" của Vĩnh Thụy, vạch trần thực chất cái gọi là "độc lập" và "thống nhất" giả hiệu, làm cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu được việc đưa Vĩnh Thụy về nước là "sự cố gắng chia rẽ cuối cùng của giặc Pháp, hòng cứu vãn sự thất bại của chúng". Kết hợp với khẩu hiệu chống Vĩnh Thụy..., đoàn viên, thanh niên học sinh, trí thức, công nhân ở thị xã đã nêu khẩu hiệu đấu tranh chống bắt thanh niên đi lính, tẩy chay hàng xa xỉ phẩm... Ngày 6-6-1949, phối hợp với phong trào đấu tranh của cả nước, gần nhất là cuộc đấu tranh của nhân dân Hải Lăng tẩy chay cuộc biểu tình do địch tổ chức nhằm mục đích ủng hộ và gây uy tín cho Bảo Đại (Vĩnh Thụy)(1), đông đảo thanh niên và các tầng lớp nhân dân ở thị xã Quảng Trị cũng tẩy chay cuộc biểu tình cưỡng bách, phá cuộc đón tiếp Vĩnh Thụy (khi Vĩnh Thụy mới về nước) bằng các hình thức treo băng, biểu ngữ ở dọc đường phố, rải truyền đơn khắp nơi trong thị xã với nội dung: "Đả đảo Bảo Đại!". "Phản đối trò hề Bảo Đại hồi loan". Nhân dân thị xã còn viết bản tố cáo tội ác của một số tên ngụy quyền tay sai đắc lực của thực dân Pháp, dán ở nhiều nơi".(1)
Hưởng ứng "Tuần lễ rào làng", "Tuần lễ phá hoại" do Tỉnh đội Quảng Trị phát động, hàng ngàn đoàn viên, thanh niên ở vùng đồng bằng thuộc các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Gio Linh, Vĩnh Linh đã tổ chức phá hoại quốc lộ số 1, dựng vật chướng ngại cản trở việc hành quân tiếp tế của địch, làm tê liệt giao thông vận tải của địch trong nhiều tuần lễ.
Ngoài việc làm nòng cốt phá hoại quốc lộ số 9 làm tắc nghẽn giao thông địch, góp phần cùng bộ đội chủ lực bao vây Khe Sanh, tiêu diệt đồn Nguồn Rào giải phóng khu vực Bắc Hướng Hóa, hàng ngàn đoàn viên, thanh niên các dân tộc Vân Kiều, Pacô còn đóng góp 40.000 ngày công rào 41 bản, bao vây 8 vị trí, lô cốt địch ở dọc đường 9 (thuộc địa phận Hướng Hóa).
Phong trào phá hội tề do đoàn viên, thanh niên dân quân, du kích làm nòng cốt diễn ra liên tiếp “sáu lần tổng giải tán hội tề”(2) năm 1948(3) và trở thành một cuộc tổng phá tề của nhân dân toàn tỉnh trong các vùng tạm bị địch chiếm, tiêu diệt và làm tan rã bọn bù nhìn tay sai, củng cố, lập lại chính quyền cách mạng ở cơ sở vào cuối năm 1949. Thắng lợi của công tác phá tề trừ gian cộng với sự phát triển sâu rộng của chiến tranh du kích khắp các địa bàn, đã làm thất bại một bước âm mưu của Pháp - Mỹ hòng bình định vùng tạm bị chiếm, vơ vét sức người sức của của nhân dân ta phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của chúng. Thắng lợi đó đã góp phần củng cố hậu phương của ta, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích, làm cho địch khiếp sợ và rút lui 5 đồn: Xuồi Muồi, Loa, Ra Lồ, Bãi Lọ, Ba Du (Hướng Hóa), giải phóng hàng vạn thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và các tầng lớp khác ở tỉnh khỏi ách kìm kẹp của địch, tạo điều kiện cho ta huy động sức người, sức của vào cuộc kháng chiến.
Về kinh tế tài chính: Đoàn viên, thanh niên ở cơ sở nông thôn luôn hăng hái cùng với bà con nông dân đẩy mạnh phong trào đổi công, ở những nơi có điều kiện thuận lợi hơn như các vùng tiền chiến khu: Hải Đạo, Trấm, Trái, Của... ở chiến khu Ba Lòng, Tỉnh Đoàn tổ chức 2 giải pháp chính là: Tổ chức tập đoàn sản xuất nhằm đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự cấp, tự túc và phục vụ kháng chiến và chung vốn với bà con trong chiến khu chăn nuôi gà, vịt để lấy kinh phí hoạt động Đoàn(1). Trước nhu cầu tiêu dùng ngày càng bức xúc của nhân dân, đoàn viên, thanh niên đã cùng gia đình phục hồi một số nghề thủ công như làm nón, chầm tơi, làm quạt, mộc, rèn... Cuộc bao vây kinh tế, triệt đường tiếp tế của địch cũng thu được nhiều kết quả. Khắp các ngả đường vào thị xã tỉnh lỵ, thị trấn do địch chiếm đóng đều được bố trí các vọng gác do lực lượng thanh niên dân quân đảm nhiệm kiểm soát, không cho người đưa lương thực, thực phẩm... vào bán cho địch, nghiêm trị các cá nhân tham lợi..., cổ động nhân dân tẩy chay hàng xa xỉ phẩm, hàng ngoại hóa do địch tung ra bán ở các chợ do ta kiểm soát đều ế ẩm.
Trong công tác thông tin tuyên truyền, đoàn viên, học sinh thường đóng vai trò trụ cột. Ngoài các hoạt động rầm rộ, sôi nổi ở chiến khu, các vùng tiền chiến khu..., trong năm 1949, dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng, các chi đoàn Thanh niên Cứu quốc ở xã phường đã đẩy mạnh công tác võ trang tuyên truyền, xung phong vào vùng địch hậu, vạch mặt bọn tay sai bù nhìn như Vĩnh Thụy, Xuân, Hữu... cho nhân dân rõ, đẩy mạnh công tác binh, địch vận, cổ động nhân dân bao vây kinh tế địch... Các đợt tuyên truyền cổ động tập trung cao nhất vào các thời gian Chính phủ ta ban hành sắc lệnh giảm tô (7-1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh gởi thư kêu gọi nhân dân bán gạo khao quân (8-1949), Chính phủ ta ban hành sắc lệnh nghĩa vụ quân sự (11-1949), trong dịp bầu cử Hội đồng Nhân dân các cấp...
Phong trào bình dân học vụ trong khó khăn ác liệt bị địch càn quét, đánh phá vẫn được duy trì ngay cả trong vùng bị địch tạm chiếm. Đoàn viên, thanh niên học sinh là lực lượng chịu trách nhiệm tổ chức lớp học và tham gia dạy học. Hội nghị tổng kết phong trào bình dân học vụ toàn quốc vào cuối năm 1949, huyện Triệu Phong có xã được đánh giá là nơi có phong trào phát triển mạnh (đứng thứ 2 trong toàn quốc).
Về giáo dục phổ thông, sau một thời gian khó khăn do địch đánh phá ác liệt, các trường tiểu học phải tạm ngừng hoạt động. Đến năm 1949, được Đảng và Chính phủ quan tâm, nhân dân hết lòng ủng hộ, nhờ tinh thần cố gắng, tận tụy, hy sinh của cán bộ và giáo viên, hầu hết các huyện trong tỉnh đã mở trường, lớp phổ thông tiểu học cho con em nhân dân lao động đến học, với quy mô khác nhau. Chẳng hạn ở xã Triệu Nguyên (chiến khu Ba Lòng) có trên 100 học sinh, ở xã Cam Lộc (Cam Lộ) có khoảng 200 học sinh... Trên cơ sở đó, Đội Thiếu niên Tiền phong của tỉnh được chính thức thành lập, thu hút đông đảo các em ở các vùng tiền chiến khu và chiến khu vào Đội, hoạt động trong phong trào yêu nước và tham gia kháng chiến tùy theo sức lực của mình. Sau khi được tin bọn cảnh sát và lính lê dương đàn áp dã man đoàn biểu tình của học sinh, sinh viên và nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn vào ngày 9-1-1950, lại giết hại anh Trần Văn Ơn, một thanh niên tiêu biểu cho lòng yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất của học sinh, sinh viên, đoàn viên, thanh niên học sinh tỉnh Quảng Trị vô cùng căm phẫn, rầm rộ lên tiếng tố cáo cuộc tàn sát dã man của giặc Pháp...
Tháng 2-1950, Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn quốc lần thứ nhất được triệu tập tại Đại Từ (Thái Nguyên). ở tỉnh Quảng Trị, đồng chí Lê Mạnh Thái - Bí thư tỉnh Đoàn(1) (thay đồng chí Hoàng Lữ Quang đi học văn hóa tại khu IV) đã đi dự Đại hội. Sau khi đánh giá sự hoạt động và trưởng thành của Đoàn trong thời gian qua, nhất là từ năm 1941 đến năm 1950, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất đề ra: "nhiệm vụ trước mắt của Đoàn là động viên, giáo dục, thống nhất lực lượng thanh niên, cổ vũ thế hệ trẻ tích cực tham gia sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, quét sạch quân thù ra khỏi đất nước, xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, góp phần vào công cuộc bảo vệ hòa bình thế giới"(1). Đại hội đã thông qua Báo cáo Chính trị và Điều lệ Đoàn. Điều lệ xác định vai trò của Đoàn là: "Cánh tay và đội dự trữ của Đảng, công tác dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng"(2).
Đại hội Đoàn đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới, đồng chí Nguyễn Lam được bầu làm Bí thư(3).
Trong thời gian dự Đại hội, Đoàn đại biểu Thanh niên Cứu quốc Bình-Trị-Thiên được Ban tổ chức Đại hội đón tiếp ân cần chu đáo, được gặp Bác Hồ và được biểu dương: "Có một ưu điểm rất lớn, nghĩa là trong khi giặc đánh như bão táp, các cấp lãnh đạo bình tĩnh động viên kịp thời và mãnh liệt tinh thần hy sinh của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên. Cũng nhờ vậy mà quân thù kinh sợ nhiều phen..."(4).
Cùng trong thời gian dự Đại hội, đại diện Tỉnh Đoàn Thanh niên Cứu quốc của 3 tỉnh: Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình đã tranh thủ thời gian cùng nhau họp bàn và đi đến thống nhất chương trình "Phối hợp hành động" với nội dung gồm 3 điểm:
Một là: Tổ chức tuyên truyền thành tích kháng chiến và kiến quốc của Đoàn Thanh niên Cứu quốc thuộc 3 tỉnh trong thanh niên và nhân dân mỗi tỉnh, kịp thời động viên thanh niên: “nêu cao tinh thần tích cực đấu tranh chống thực dân xâm lược để giải phóng dân tộc và kiến thiết quốc gia”.
Hai là: Giúp nhau mở các lớp bồi dưỡng, đào tạo cán bộ thanh thiếu nhi. Tỉnh Đoàn này mở lớp thì báo cho hai Tỉnh Đoàn kia biết để gởi cán bộ đến học. Trong thời gian học tập, học viên được miễn phí tiền ăn và thuốc chữa bệnh.
Ba là: Mỗi khi Tỉnh Đoàn này tổ chức liên hoan văn nghệ trong thanh niên thì mời đại biểu Đoàn Thanh niên Cứu quốc của hai tỉnh kia đến dự và ngược lại"(1). Đồng chí Lê Mạnh Thái đại diện Tỉnh Đoàn Thanh niên Quảng Trị, đồng chí Nguyễn Thược đại diện Tỉnh Đoàn Thanh niên Quảng Bình, đồng chí Lê Quang Vinh đại diện Tỉnh Đoàn Thanh niên Thừa Thiên đã ký vào bản Phối hợp hành động(2).
Tiếp theo sau Đại hội Đoàn toàn quốc là Đại hội đại biểu Liên đoàn Thanh niên Việt Nam lần thứ nhất. Đại hội vô cùng phấn khởi và vinh dự được Bác Hồ kính yêu đến thăm. Bác Hồ ân cần dặn dò thanh niên cả nước đoàn kết, tích cực đóng góp sức lực của tuổi trẻ vào công cuộc kháng chiến cứu nước và luôn luôn chăm sóc thiếu niên, nhi đồng...
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Liên đoàn Thanh niên Việt Nam và suy tôn đồng chí Nguyễn Chí Thanh, người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi đã có công giữ vững cơ sở kháng chiến của Bình-Trị-Thiên trong giờ phút nghiêm trọng của những ngày đầu kháng chiến làm lãnh tụ phong trào thanh niên Việt Nam"(1).
Sau khi trở về địa phương, đoàn đại biểu của thanh niên Quảng Trị đã tổ chức tuyên truyền phổ biến Nghị quyết và các đề án công tác do Đại hội Đoàn toàn quốc thông qua đến với các cấp bộ Đoàn trong tỉnh; đồng thời khẩn trương chuẩn bị Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ 3.
Tháng 11 năm 1950, Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh Quảng Trị được tổ chức tại Đá Đứng (Tây Triệu Phong)(2) có hơn 100 đại biểu đại diện cho các Huyện Đoàn, Thị Đoàn và chi đoàn các cơ quan cấp tỉnh, các đơn vị lực lượng vũ trang trong tỉnh dự. Đại hội đã đánh giá các mặt hoạt động của Đoàn và phong trào thanh, thiếu nhi trong tỉnh thời gian qua, rút ra ưu, khuyết điểm, kinh nghiệm trong chỉ đạo... Về nhiệm vụ sắp tới, sau khi quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, Nghị quyết Đoàn toàn quốc lần thứ I, Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ II xác định: “Lúc này hơn lúc nào hết, Đoàn phải giáo dục, động viên đoàn viên, thanh niên trong tỉnh tiếp tục tòng quân phục vụ kháng chiến, luyện tập quân sự, tham gia du kích chiến tranh, thi đua giết giặc lập công, chống giặc bắt thanh niên đi lính, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, làm nghĩa vụ nuôi quân, tiếp tế cho bộ đội, đẩy mạnh phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, gây không khí vui tươi lành mạnh trong tuổi trẻ. Ra sức bồi dưỡng, hướng dẫn thanh thiếu nhi học tập chính trị, quân sự, văn hóa để trở thành đoàn viên tiêu biểu, thiếu nhi tiêu biểu tham gia kháng chiến. Trên cơ sở đó, xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh đúng với tính chất là tổ chức thanh niên trung kiên gần Đảng, lập Liên đoàn Thanh niên Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện...”
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh Quảng Trị gồm 15 đồng chí, đồng chí Lê Mạnh Thái được bầu làm Bí thư Tỉnh Đoàn(1). Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn gồm các đồng chí Phan Thăng, Trương Văn Kiếm, Ngô Văn Nhã, Nguyễn Xuân Hàn, đồng chí Nguyễn Thị Thanh Thiểu được phân công phụ trách nữ thanh niên và thiếu nhi.
Sau Đại hội, Ban Chấp hành Đoàn các cấp bắt tay ngay vào việc triển khai Nghị quyết Đại hội. Cùng thời gian này, toàn Đoàn mở đợt sinh hoạt học tập: Lời kêu gọi của Đại hội Đảng bộ Quảng Trị lần thứ IV gởi toàn thể đảng viên, đoàn viên, thanh niên... trong tỉnh.
Qua đợt sinh hoạt chính trị, đoàn viên, thanh niên toàn tỉnh thấy rõ: Sau hơn bốn năm chiến đấu anh dũng, lực lượng kháng chiến của ta mạnh hẳn lên. Cuộc kháng chiến của nhân dân và tuổi trẻ Việt Nam chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ xâm lược ngày càng được đông đảo nhân dân tiến bộ trên thế giới đồng tình và ủng hộ. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dần dần có uy tín trên trường quốc tế, Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta. Đồng thời đoàn viên, thanh niên cũng nhận rõ hơn trách nhiệm của mình là phải giác ngộ, động viên thanh niên tòng quân xây dựng bộ đội địa phương, phát triển dân quân du kích, tăng gia địch vận nhất là ngụy vận, sửa soạn chiến trường, phối hợp với bộ đội chủ lực... Từ cuối năm 1950 trở đi, phong trào thanh niên phát triển mạnh mẽ, rộng khắp các địa bàn trong tỉnh. Đến cuối năm 1950, Khu đoàn Thanh niên cứu quốc Liên khu 4 đã tăng cường cho Tỉnh Đoàn Quảng Trị 2 cán bộ, trong đó có đồng chí Vương Đình Kế là ủy viên Ban Chấp hành Khu đoàn và đồng chí Nguyễn Văn Lương - cán bộ phong trào của Khu đoàn. Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn đã họp bổ sung đồng chí Vương Đình Kế vào Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn giữ chức vụ Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Lương làm ủy viên Thường vụ. Lúc này, đồng chí Nguyễn Mạnh Thái làm Phó Bí thư Tỉnh Đoàn. Đầu năm 1951, đồng chí Vương Đình Kế được điều đồng ra Khu Đoàn, đồng chí Lê Mạnh Thái được phân công làm quyền Bí thư Tỉnh Đoàn.
Với khẩu hiệu: "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Pháp xâm lược", thực hiện Sắc lệnh nghĩa vụ quân sự của Chính phủ (ban hành cuối năm 1949), hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Thanh niên Cứu quốc, đợt đầu: Toàn tỉnh có 6.500 thanh niên ghi tên tòng quân và kết quả có trên 1.500 thanh niên trúng tuyển tân binh, góp phần đưa tổng số bộ đội địa phương và du kích tập trung của Quảng Trị lên con số 16 ngàn người (cao nhất so với các năm trước) và 14.800 người trong đó phần lớn là thanh niên đi thanh niên xung phong, dân công vận tải phục vụ các mặt trận...
Về địch, sau thất bại trên tuyến phòng thủ biên giới Việt - Trung (Thu - Đông 1950), "Pháp lâm vào tình thế khó khăn, mất quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Đông Dương"(1). Nhân lúc Pháp thất bại ở biên giới, Mỹ tăng thêm viện trợ cho Pháp và can thiệp sâu hơn vào cuộc chiến tranh Đông Dương, nhằm thực hiện âm mưu ngăn chặn phong trào cộng sản lan tràn xuống miền Đông - Nam châu á, sẵn sàng thay Pháp, tiếp tục chiến tranh xâm lược.
Được Mỹ tiếp sức, Pháp chủ trương quyết giữ Đông Dương, ngày 6-12-1950, Chính phủ Pháp cử Đại tướng Đơlátđờ Tátxinhi (Delattre de Tassigny), Tư lệnh lục quân khối Tây âu, là viên tướng được đánh giá là tài ba bậc nhất của Pháp hồi đó sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh ở Đông Dương.
Tới Đông Dương, Đơlát gấp rút tập trung quân Âu Phi xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh và ra sức phát triển quân ngụy, tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định cho được vùng tạm chiếm, đánh phá ác liệt căn cứ, hậu phương và chuẩn bị tiến công ra vùng tự do của ta hòng gây thanh thế, lấy lại tinh thần binh lính, làm cơ sở cho việc xin tăng cường viện trợ Mỹ với ý đồ giành lại quyền chủ động.
Về ta, sau thắng lợi Biên giới, ta thoát khỏi thế bị bao vây, có điều kiện tiếp nhận sự chi viện về vật chất và tinh thần của anh em bè bạn, đặc biệt là của Trung Quốc, Liên Xô. Song vùng trung du, đồng bằng đông người nhiều của vẫn nằm trong vùng kiểm soát của địch. ở đây địch tiến hành bình định cực kỳ ác liệt...
Đáp ứng yêu cầu khắc phục khó khăn, đẩy kháng chiến đến thắng lợi và xây dựng Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được triệu tập tại Tuyên Quang, họp từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951, Đại hội xác định nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là: "Tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập thống nhất, bảo vệ hòa bình thế giới". Về tổ chức lãnh đạo của Đảng, Đại hội chủ trương trong điều kiện lịch sử mới, Đảng phải ra hoạt động công khai và đã đến lúc phải xây dựng ở mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia một Đảng cách mạng hợp với hoàn cảnh cụ thể để lãnh đạo cuộc kháng chiến của từng nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Tại Đại hội, đoàn đại biểu của Tiểu ban Thanh vận Trung ương đã trình bày trước Đại hội bản tham luận quan trọng về nội dung, phương hướng tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc và công tác vận động thanh niên trong tình hình mới. Bản báo cáo đề ra Ba nhiệm vụ trọng tâm của Đoàn và phong trào thanh niên là: Đẩy mạnh công tác thanh niên ở vùng địch tạm chiếm; xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành tổ chức trung kiên; tăng cường công tác giáo dục thiếu niên, nhi đồng.
Được ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 soi sáng, Tỉnh Đoàn đã mở "Lớp cán bộ Đoàn chuẩn bị tổng phản công" tại Đá Nổi, cạnh cơ quan Tỉnh Đoàn. Lớp học có 75 học viên, gồm cán bộ Đoàn ở các huyện thị, ở các đơn vị bộ đội, lần đầu tiên có một số cán bộ Đoàn phụ trách thiếu niên, nhi đồng dự. Tỉnh Đoàn Thừa Thiên có gởi một số cán bộ Đoàn ra dự học. Lớp học kéo dài trong hai tháng, tập trung vào các nội dung: Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ hai; nhiệm vụ của thanh niên trong giai đoạn mới - giai đoạn tổng phản công; công tác chi đoàn, chi đội, hướng dẫn cách tổ chức cắm trại, liên hoan lửa trại...
Cùng thời gian, Đoàn Thanh niên Cứu quốc và Liên đoàn Thanh niên Việt Nam tỉnh Quảng Trị đã động viên đoàn viên, thanh niên trong tỉnh đẩy mạnh các phong trào tòng quân giết giặc lập công; phong trào tăng gia sản xuất và tiết kiệm; phong trào đi dân công, thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến; phong trào đấu tranh chống địch bắt thanh niên đi lính; phong trào xóa nạn mù chữ, học bổ túc văn hóa; phong trào văn hóa, văn nghệ, xây dựng đời sống mới...
Đối phó với hoạt động của ta từ đầu tháng 3-1951, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Bình-Trị-Thiên đã huy động trên 2.200 quân ứng chiến tinh nhuệ có pháo binh, công binh, cơ giới và máy bay yểm trợ. Đã tổ chức một "cuộc càn dài ngày vào vùng Hải Lăng - Phong Điền. Địch hy vọng nếu phá được "vựa lúa", xúc tát được dân, phá được căn cứ quan trọng bậc nhất ở vùng đồng bằng Trị Thiên này thì đẩy ta lún sâu vào thế bế tắc về lương thực, thực phẩm vốn đã cạn kiệt từ gần nửa năm".(1)
Trên thực tế, mùa xuân 1951, ở đây đã diễn ra ngay từ đầu chiến dịch một cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt giữa quân dân và thanh niên ta với địch...
Kết quả trận vận động đánh vào Thanh Hương - Mỹ Xuyên của Trung đoàn 95 và Trung đoàn 101 được sự phối hợp đắc lực của quân dân và thanh niên Quảng Trị, Thừa Thiên, đã giành được thắng lợi giòn giã, "hơn 1.500 tên địch bị loại khỏi vòng chiến, 125 tên bị bắt, tiểu đoàn Lê Dương số 4 bị xóa sổ, binh đoàn Bút Tin bị tiêu diệt, binh đoàn Sốc Kên bị đánh thiệt hại"(2). Chiến thắng Thanh Hương - Mỹ Xuyên khẳng định "khối chủ lực của ta ở Bình-Trị-Thiên"(3) đã đủ sức đánh bại chủ lực của địch trên chiến trường. Những ngày cuối tháng 3-1951, cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân Bình-Trị-Thiên, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 95 (trong đó có 80% là đoàn viên, thanh niên) tưng bừng tổ chức liên hoan mừng thắng lợi, đón nhận thư khen của Bác Hồ, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam - Trường Chinh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp....
Sau trận chống càn thắng lợi, vùng du kích của ta được mở rộng và củng cố, một số căn cứ lõm ở đồng bằng Triệu - Hải được hình thành, lực lượng vũ trang ba thứ quân trưởng thành, có thêm kinh nghiệm chiến đấu, thế trận chiến tranh nhân dân do lực lượng đoàn viên, thanh niên làm nòng cốt có bước phát triển mới. Ngày 21-3-1951, các chiến sĩ trẻ trong đại đội bộ đội địa phương huyện Hải Lăng tập kích đồn Hải Thái, diệt 40 tên địch; ngày 23-3-1951, thanh niên dân quân du kích xã Hải Thái phục kích bọn Việt Binh đoàn đi tuần, diệt một số tên, thu vũ khí; ngày 15-4-1951, thanh niên dân quân du kích xã Hải Trường phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh lật đổ 7 toa tàu của địch ở phía Bắc cầu Mỹ Chánh.
Để khuyến khích nông dân sản xuất, ngày 1-5-1951 Chính phủ đã ra sắc lệnh bãi bỏ các thứ thuế cũ và định ra bảy thứ thuế mới trong đó có thuế nông nghiệp thu bằng thóc.
Thực hiện chủ trương đó, Đoàn Thanh niên Cứu quốc và Liên đoàn Thanh niên Việt Nam tỉnh ta đã vận động đoàn viên, thanh niên ở từng gia đình nông dân có trách nhiệm tuyên truyền giải thích về thuế nông nghiệp thu bằng thóc cho mọi người hiểu rõ và thực hiện.
Về văn hóa văn nghệ: Dưới sự chỉ đạo của Thường vụ Tỉnh ủy, ngoài việc đẩy mạnh hoạt động của các Ban Văn hóa thông tin ở cơ sở, ở các đơn vị, Tỉnh Đoàn (lúc này do đồng chí Lê Mạnh Thái làm quyền Bí thư, thay đồng chí Vương Đình Kế) còn tổ chức một cuộc họp bạn mang tên "Họp bạn văn nghệ chùa Ngà"(1) tại Đá Nổi. Thành phần tham dự họp bạn gồm có lực lượng làm công tác văn hóa, văn nghệ của Đoàn Thanh niên Cứu quốc chiến khu (cụ thể là gồm các đoàn viên, thanh niên đàn giỏi, hát ca, hò và nói vè hay ở các Ty: Thông tin, Bình dân học vụ, Y tế, Giao thông liên lạc, Tỉnh Đoàn, Tỉnh Đội, Trung đoàn 95, Hội Phụ nữ, Nông hội). Kết quả có 150 người dự, kéo dài hai ngày đêm mà vẫn không trình diễn hết các tiết mục đăng ký. Trong cuộc họp bạn này, các nhà thơ trẻ ở Quảng Trị như Vĩnh Mai, Lương An, Dương Tường... và Lưu Trọng Lư (ở chiến khu Thừa Thiên) đã giới thiệu các tác phẩm của mình vừa mới sáng tác trong các năm đầu kháng chiến. Nhiều tờ báo tường (khổ rộng: 2m x 1,5m), nhiều tập thơ, ký họa nói lên tấm lòng yêu nước, tinh thần hăng hái tham gia cách mạng của bộ đội, cán bộ và nhân dân, giới thiệu người tốt, việc tốt ở các địa phương trong tỉnh được trình bày, treo dưới gốc các cây cổ thụ thuộc khu vực họp bạn đã gây ấn tượng tốt đẹp về thành tựu âm nhạc, văn học, nghệ thuật không những đối với anh chị em dự họp bạn mà còn lan tỏa trong hàng ngàn thanh niên, học sinh và các tầng lớp khác ở chiến khu, trước hết là nhân dân Đá Nổi và các vùng lân cận như Thạch Xá, Khe Giữa, Làng Hạ.
Về giáo dục, toàn tỉnh đã củng cố và xây dựng được 28 trường phổ thông cấp I, trong đó có 4 trường hoàn chỉnh từ lớp 1 đến lớp 4 (chiến khu Ba Lòng, Cùa, Phong An,...) mở trường cấp II Lê Thế Hiếu tại Cùa. Mặc dù thường xuyên bị địch càn quét, đánh phá, các lớp học phải chuyển địa điểm hoặc thay đổi giờ lên lớp để tránh địch oanh tạc, nhưng các thầy cô giáo (phần lớn là đảng viên trẻ, đoàn viên, thanh niên) vẫn bám trường, bám lớp, bám học sinh để giảng dạy, kịp thời hướng dẫn học sinh đối phó với mọi âm mưu phá hoại của địch. Nhờ vậy, trong khó khăn, ác liệt, số học sinh năm sau tăng hơn năm trước. Niên khóa 1950 - 1951, các trường phổ thông trong tỉnh đã thu hút được 6.345 con em nhân dân lao động đến trường. Các lớp bình dân học vụ, bổ túc văn hóa do đoàn viên, thanh niên học sinh phụ trách vẫn tiếp tục duy trì, phát triển ngay cả ở các thôn xóm sát lô cốt, vị trí địch.
Phong trào vệ sinh phòng bệnh, xây dựng nếp sống mới đã trở thành phong trào quần chúng, việc tổ chức ma chay, cúng tế, tổ chức cưới hỏi đơn giản, tiết kiệm, lành mạnh.
Giữa năm 1951, để phối hợp với bộ đội chủ lực Trung đoàn 95 đánh đồn Ba Dốc (Gio Linh), thanh niên dân quân, du kích Cam Lộ tổ chức phá hoại đoạn đường từ Đập Huyện (Gio Linh) vào Đông Hà, thanh niên dân quân du kích Vĩnh Linh phá hoại đoạn đường quốc lộ I từ Hiền Lương ra Hồ Xá. Tất cả các hoạt động nói trên đều nhằm cô lập vị trí Ba Dốc, tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta đánh chiếm vào đêm 12-6-1951.
"Trận cường tập vị trí Ba Dốc là một trận đánh hiệu quả cao, trong vòng một tiếng đồng hồ ta đã làm chủ trận địa, tiêu diệt và bắt sống 81 tên địch, thu 1 đại bác 75mm, 2 trung liên, 80 súng trường, 20 tấn gạo và nhiều quân trang, quân dụng, giải thoát một số cán bộ, đoàn viên và thanh niên bị địch bắt giam ở đây. Từ trận đầu đánh công kiện thắng lợi, bộ đội, thanh niên dân quân du kích tỉnh ta rút ra kinh nghiệm bổ ích cho việc đánh những vị trí địch được xây dựng kiên cố, hỏa lực mạnh, phòng thủ vững chắc".(1)
Sau chiến thắng Ba Dốc, quân dân và thanh niên Quảng Trị liên tiếp tiêu diệt một số lô cốt của địch ở
Hà Thanh (Gio Linh), Quy Thiện, Thôn Đông, Cu Hoan (Hải Lăng)...
Quá hoảng sợ, từ ngày 24-6 đến ngày 5-7-1951, địch buộc phải rút bớt 7 vị trí ở Triệu Phong, Cam Lộ, Vĩnh Linh, Hải Lăng, tăng cường bảo vệ Đông Hà, thị xã Quảng Trị (tỉnh lỵ).
Được lực lượng bộ đội Trung đoàn 95 phân tán về các địa bàn cùng bộ đội địa phương thanh niên dân quân, du kích đánh địch, chống càn, bảo vệ ruộng đồng, bà con nông dân vùng đồng bằng đẩy mạnh sản xuất. Đồng bào thị xã, thị trấn đấu tranh đòi ngụy quyền phải để cho nhân dân được tự do đi lại buôn bán, làm ăn. Đoàn viên, thanh niên công nhân ở các nhà máy đèn, máy nước, Sở dây thép đấu tranh chống chủ trương của địch bắt tập quân sự. Nữ thanh niên và các chị, các mẹ buôn bán ở chợ Tỉnh (thị xã Quảng Trị) tổ chức việc quyên góp bằng cách lập "Hội tương tế" lấy quỹ mua đường, sữa, thuốc chữa bệnh và tìm cách chuyển ra các khu căn cứ cách mạng, ủng hộ anh chị em thương binh, bệnh binh của ta đang nằm điều trị ở các bệnh xá, bệnh viện... Về địch, sau một năm "Bình định gấp rút" và tăng cường lực lượng, tướng Đờlát chủ quan cho rằng đã ổn định được tình thế, có thể chuyển sang phản công để giành lại quyền chủ động chiến lược, xoay chuyển cục diện chiến tranh.
Thực hiện âm mưu đó, ngày 9-11-1951, Đ.Tatxinhi tập trung 20 tiểu đoàn bộ binh cơ động, chiến lược có đủ cơ giới, pháo binh, máy bay yểm trợ bắt đầu cuộc hành quân đánh chiếm Hòa Bình. Chúng hy vọng kéo được chủ lực ta ra nơi mà chúng chuẩn bị sẵn để tiêu diệt, giành lại quyền chủ động đã mất trên chiến trường; đồng thời gây một tiếng vang để tranh thủ thêm viện trợ Mỹ, củng cố thêm tinh thần quân đội của chúng.
Tổng quân ủy của ta nhận định: "Địch đã mang lực lượng cơ động tinh nhuệ phân tán trên một tuyến dài đột xuất, công sự chưa vững chắc, địa hình không thuận lợi... tạo cho ta một thời cơ tốt để tiêu diệt sinh lực chúng. Và quyết định mở chiến dịch Hòa Bình nhằm vây diệt quân cơ động của địch. Các chiến trường khác trên toàn quốc phải hoạt động phối hợp tích cực"(1).
Thực hiện chủ trương của Trung ương, được sự lãnh đạo của Liên Khu ủy liên khu IV, quân dân và thanh niên Quảng Trị đã kết hợp chống càn của địch ở Triệu Phong, Gio Linh... với nổi dậy phá tề trừ gian, phát triển sâu rộng chiến tranh du kích. ở thị xã Quảng Trị, tổ công an xung phong gồm 4 đảng viên trẻ và đoàn viên, thanh niên(1) đã cải trang thành lính Commăngđô đột nhập vào Sở Liêm phòng liên bang Pháp (ngay giữa ban ngày) tìm diệt tên Tuyliơ (có nhiều nợ máu đối với dân) nhưng Tuyliơ đi vắng. Vụ diệt Tuyliơ tuy không thành, nhưng đã làm cho bọn ngụy quyền, ngụy quân đóng ở thị xã một phen hoảng hồn. Nhân dân thị xã Quảng Trị, nhất là lớp trẻ khâm phục trước hành động dũng cảm của các chiến sĩ công an trẻ của ta. ở nông thôn đẩy mạnh việc tịch thu ruộng đất của Việt gian, ruộng vắng chủ, quân cấp lại cho nông dân, bảo đảm đúng chính sách người cày có ruộng, gắn liền với thực hiện giảm tô, giảm tức. Kết quả thực hiện chính sách ruộng đất đã tạo điều kiện để triển khai việc thu thuế nông nghiệp. Mặc dù công tác này gặp khó khăn về thống kê, vận động tuyên truyền nông dân thực hiện, nhất là đối với vùng đồng bằng bị địch tạm chiếm, nhưng với quyết tâm cao của Đảng bộ, sự tham gia tích cực của các đoàn viên, thanh niên ở cơ sở, nên hầu hết các gia đình nông dân trong tỉnh đều làm tốt nghĩa vụ thuế nông nghiệp. Tính riêng vụ Đông - Xuân 1951 - 1952, đã có hàng vạn đoàn viên, thanh niên cùng với các tầng lớp khác đã vận chuyển trên 1.300 tấn thóc thuế nông nghiệp từ đồng bằng lên nhập kho của tỉnh tại Khe Su (chiến khu Ba Lòng).
ở miền núi, một tổ chức phản động do bọn tay sai của Pháp từ đất Lào qua, dựa vào một số người thuộc tầng lớp trên lập ra cái gọi là "Đảng Lào Thưng" với mục đích "Đánh Tây, đuổi Việt Minh, đất Thượng tự do, người Thượng tự cai quản". Ta đã kịp thời vạch rõ âm mưu phá hoại, chia rẽ dân tộc của địch, phát động tầng lớp trẻ các dân tộc cùng với lực lượng công an trấn áp, bắt các tên giả "Thần Trời" từng bước ổn định tình hình tư tưởng cho đồng bào ở các bản....
Trước yêu cầu đòi hỏi cán bộ du kích ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa của người miền núi phải đủ mạnh để kịp thời trấn áp bọn phản động, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Huyện ủy Hướng Hóa đã mở các lớp huấn luyện quân sự cho lực lượng cán bộ xã đội, thôn đội, du kích (hầu hết đều ở trong tuổi thanh niên) "về kỹ thuật tác chiến, về cách làm và sử dụng các kiểu chông: Chông hầm, chông treo, chông mặt đất, chông dài, chông ngắn, chông tre, chông sắt và các loại bẫy: Bẫy tò ho, bẫy liên hoàn nhiều lưỡi, bẫy đá, bẫy sập, bẫy treo; cách gài mìn, lựu đạn, đạn đạp... kinh nghiệm rào làng chiến đấu của các thôn Cảnh Dương, Cự Nẩm (Quảng Bình) cũng được cán bộ, đoàn viên, thanh niên, dân quân, du kích Hướng Hóa trao đổi, học tập, vận dụng chống địch"(1).
Nhằm phá vỡ các cơ sở du kích, triệt phá mùa màng và tìm diệt lực lượng kháng chiến, ngày 21-1-1952, giặc Pháp huy động tiểu đoàn 27 Bắc Phi, tiểu đoàn 6 Spahi và tiểu đoàn 7 ngụy, có máy bay, pháo binh yểm trợ, chia làm nhiều mũi bao vây, tấn công xã Vĩnh Hoàng (Vĩnh Linh). Thanh niên dân quân du kích ở đây được sự hỗ trợ của đại đội 230 bộ đội địa phương tỉnh, dựa vào "Hệ thống làng xã chiến đấu" đã anh dũng đánh trả các cuộc tấn công của địch, buộc địch phải rút lui sau khi bị ta tiêu diệt gần 50 tên và hai xe quân sự của chúng bị phá hủy...
Sau chiến thắng Vĩnh Hoàng, tiếng súng phối hợp với chiến dịch Hòa Bình của quân dân và thanh niên Quảng Trị nổ ra ở nhiều nơi trong tỉnh, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên ngụy quân, ngụy quyền, san bằng nhiều lô cốt, tháp canh của địch, mở rộng vùng giải phóng.
Trong lúc đó trên mặt trận chính diện, ba Đại đoàn (308, 312, 304) của ta liên tiếp tấn công bao vây địch ở Hòa Bình. Ngày 23-2-1952, tướng Xalăng(1) buộc phải cho quân rút khỏi Hòa Bình. Với thắng lợi đó, ta đã làm phá sản một kế hoạch chiến tranh lớn của địch trong Đông-Xuân 1951 - 1952.
Giặc Pháp lúc này gặp thêm những khó khăn mới, ngân sách thiếu hụt, nội bộ giới cầm quyền phân hóa, nội các phải thay đổi liên tiếp, phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp và nhân dân Bắc Phi ngày càng lên mạnh. Khả năng tăng quân của chúng vào Đông Dương rất hạn chế. Lợi dụng lúc Pháp gặp khó khăn, Mỹ tăng viện trợ, bắt Pháp phải nhượng bộ chúng trong vấn đề tổ chức ngụy quân, nắm ngụy quyền. Tiếp tục dựa vào Mỹ, Pháp đẩy mạnh việc bắt thanh niên Việt Nam vào lính, phát triển ngụy quân, liên tiếp mở các cuộc càn quét, hòng thực hiện âm mưu "Bình định hậu phương - cứu vãn tình trạng ruỗng nát" ở vùng chúng tạm kiểm soát.
Nhằm bồi dưỡng và tích trữ lực lượng dồi dào để kháng chiến lâu dài, để chuẩn bị đầy đủ chuyển sang tổng phản công, đầu năm 1952, Trung ương Đảng và Chính phủ ta phát động cuộc vận động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Thay mặt Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Nước ta đang kháng chiến, điều kiện khó khăn hơn. Nhưng chúng ta quyết tâm tăng gia sản xuất và tiết kiệm, thì nhất định tăng gia sản xuất và tiết kiệm được... Muốn thành công trong việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm... phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu"(1).
Hưởng ứng phong trào thi đua sản xuất và tiết kiệm do Đảng, Chính phủ phát động và làm theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn viên, thanh niên và các tầng lớp khác ở tỉnh ta cùng với cả nước đã nêu cao tinh thần yêu nước, ra sức khắc phục khó khăn trong lao động sản xuất. Đồng bào ở vùng tạm chiếm kiên quyết đấu tranh để sản xuất và bảo vệ sản xuất, chống địch cướp bóc, vơ vét lúa gạo và phá hoại sản xuất. Bộ đội, cán bộ, công nhân viên chức ở các cơ quan cấp huyện, cấp tỉnh cũng tranh thủ sản xuất, chăn nuôi để tự túc một phần. Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn Thanh niên Cứu quốc Quảng Trị kế tiếp nhau duy trì một trại sản xuất khá lớn (khoảng 40 hecta) ở chiến khu Ba Lòng để làm lúa, trồng ngô, đậu xanh, lạc và nuôi hàng trăm con lợn, bò. Trại sản xuất có trên 30 đoàn viên, thanh niên túc trực sản xuất chăm bón, thu hoạch. Kết quả sản xuất đã cung cấp lương thực và sinh hoạt phí cho số cán bộ ở cơ quan Tỉnh Đoàn, trợ cấp cho số thanh thiếu niên (con của một số cán bộ hoạt động ở vùng địch hậu) bị địch truy lùng phải tản cư lên chiến khu trong các năm 1948, 1949... Bên cạnh trại sản xuất, Tỉnh Đoàn còn lập một xưởng giấy, chế biến theo thủ công, do đồng chí Nguyễn Như Nguyện (ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn) phụ trách chung (cả sản xuất và làm giấy) từ năm 1948, sau đó là đồng chí Trương Thụy - cán bộ Tỉnh Đoàn) phụ trách... Kết quả số giấy sản xuất được cung cấp cho một số cơ quan ở chiến khu, góp phần giảm bớt số giấy phải mua từ vùng địch bằng bạc Đông Dương(1) trong các năm đầu kháng chiến.
Năm 1952, đồng chí Lê Mạnh Thái chuyển qua công tác ở quân đội, đồng chí Ngô Văn Nhả về quê. Cơ quan Tỉnh Đoàn chỉ còn lại các đồng chí: Nguyễn Văn Lương - ủy viên Thường vụ, Trương Thanh Kiếm - Chánh văn phòng, Nguyễn Văn Hàn - Phụ trách thiếu nhi. Về sau Thường vụ Tỉnh ủy tăng cường đồng chí Nguyễn Hiến vào Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn. Từ đó hai đồng chí Lương, Hiến thay nhau trực, giải quyết mọi việc của Tỉnh Đoàn.
Cũng từ năm 1952 trở đi, cuộc vận động chỉnh huấn theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba của Trung ương Đảng đã được tiến hành một cách khẩn trương. Bên cạnh số cán bộ, đảng viên trẻ được tập trung chỉnh huấn, Tỉnh Đoàn lúc này do đồng chí Nguyễn Thường (ở ủy ban Tỉnh được điều sang) làm quyền Bí thư đã chủ trương cho các chi đoàn cơ sở (xã, phường, cơ quan, trường học) tổ chức đoàn viên, thanh niên học tập tình hình và nhiệm vụ mới một cách chu đáo (có liên hệ ưu, khuyết điểm trong quá trình hoạt động, học tập...).
Cùng thời gian này, thực hiện chủ trương của Trung ương về việc "đưa cán bộ đi phục vụ chiến trường chính", các đồng chí Lê Thế Danh, Huỳnh Năng Hoài (cán bộ Đoàn hoạt động ở vùng chiến khu Ba Lòng), Trần Thanh Duy (cán bộ Huyện Đoàn Hải Lăng) cũng được điều động ra Việt Bắc một lần với Lê Mạnh Thái và được bổ sung vào cơ quan Bộ Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngoài số cán bộ Đoàn được điều động lên cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh, tại tỉnh còn có nhiều cán bộ Huyện Đoàn, Xã Đoàn cũng được điều vào quân đội và trở thành cán bộ tiểu đoàn, cán bộ đại đội, cán bộ trung đội của Trung đoàn bộ đội chủ lực 95, của bộ đội địa phương tỉnh, huyện, thị xã.
Đợt chỉnh huấn đã có tác dụng nâng cao tinh thần giác ngộ giai cấp, chống các biểu hiện sai trái, không phân rõ bạn, thù, ỷ lại, ngại kháng chiến lâu dài, kém ý thức tổ chức kỷ luật, quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế; hiểu rõ mục tiêu chiến đấu, xây dựng quyết tâm chiến đấu đến cùng vì thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Vừa đẩy mạnh chiến tranh du kích, thực hành cuộc vận động sản xuất và tiết kiệm; vừa tiến hành chỉnh huấn chính trị trong toàn Đảng, toàn quân,... quân dân và thanh niên Quảng Trị cùng với quân dân và thanh niên 2 tỉnh: Quảng Bình, Thừa Thiên trong 4 tháng cuối năm 1952 đã loại ra ngoài vòng chiến đấu trên 6.000 tên địch, tiêu diệt 17 vị trí, 60 lô cốt và tháp canh, phá vỡ tuyến phòng thủ kiên cố nhất của địch ở Bắc Quảng Bình, mở thông hành lang chiến lược Bắc - Nam. Vùng tự do Liên khu IV mở rộng vào phía Nam bao gồm hầu hết các huyện Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch (Quảng Bình) và nối thông với các căn cứ địa của 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Cùng với sự trưởng thành của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, thanh niên, dân quân du kích ở cơ sở cũng có bước phát triển mạnh mẽ, tự đảm đương nhiệm vụ tác chiến tại địa bàn, bảo vệ cho nhân dân sản xuất và thu hoạch vụ mùa tháng 8 và vụ tháng 10 (năm 1952), đóng thuế nông nghiệp đầy đủ. Đây là điều kiện thuận lợi để Đại đoàn 325 chuyển hẳn sang thực hiện nhiệm vụ của một đơn vị cơ động chiến lược.
Bước vào năm 1953, hòng tranh thủ sự vắng mặt một lực lượng lớn của Đại đoàn 325 để giành quyền chủ động, giặc Pháp lại tăng cường bình định, càn quét đồng bằng Bình-Trị-Thiên.
Trước tình hình đó, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng "tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh", Tỉnh ủy Quảng Trị chủ trương phân tán lực lượng, tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng du kích, khu căn cứ. Nhờ có sự chuyển hướng đó, từ đầu năm 1953, quân dân và thanh niên các huyện trong tỉnh liên tục đánh địch và thu thắng lợi như: Đại đội 340 (Cam Lộ) phối hợp với du kích các xã Cam Giang, Cam Thanh chống càn thắng lợi; Đại đội 354 (Vĩnh Linh) phối hợp với du kích đánh địch dọc quốc lộ I (đoạn Ba Dốc - Quán Ngang); Đại đội bộ đội địa phương Hải Lăng phối hợp với du kích phá đường ray đánh tàu địch (đoạn Diên Sanh - Mỹ Chánh); bộ đội địa phương Triệu Phong phối hợp du kích tiêu diệt lô cốt Bích La, tập kích vị trí Bồ Bản, đánh địch ở Bích Khê; du kích Đông Hà được sự hỗ trợ của một tổ biệt động đột kích phá kho vũ khí của địch ở thị trấn; các chiến sĩ ở trung đội đạo lộ đường 9 tập kích tiêu diệt lô cốt địch ở cây số 7 (đường 9)... ở các vùng du kích và vùng chiến khu, đoàn viên, thanh niên trong các ban thông tin tuyên truyền phối hợp với các chiến sĩ trẻ trong công an xã tổ chức các cuộc diễn thuyết ở các chợ kháng chiến, tổ chức các buổi liên hoan văn nghệ, đốt lửa trại thu hút đông đảo nhân dân đến xem. Qua đó phổ biến chủ trương của Đảng, thông báo tin tức chiến thắng của quân và dân ta trên khắp các chiến trường, phát động phong trào bảo mật phòng gian, kêu gọi thanh niên tòng quân, đi dân công vận tải, động viên cổ vũ bà con nông dân mau chóng hoàn thành thuế nông nghiệp. ở Hướng Hóa, sau Đại hội du kích huyện, phong trào thi đua "đánh Tây, tiễu phỉ, trừ gian, diệt tề" phát triển mạnh mẽ. Phong trào rào làng chiến đấu đã thu hút mọi người kể cả các em thiếu niên (10 - 15 tuổi) thi đua làm chông bẫy, chọn địa điểm làm công sự bí mật, phục kích đánh địch - hình thành nhiều vành đai bao vây đồn bốt địch. Công tác binh vận được nam nữ thanh niên các dân tộc Vân Kiều, Pacô chú trọng, đã kêu gọi được một số hương vệ, tổng vệ bỏ hàng ngũ địch, mang súng về với cách mạng. Song song với công tác phát động phong trào du kích chiến tranh, đoàn viên, thanh niên trong đại đội bộ đội địa phương huyện đã tổ chức tập kích đồn Ra ồ (2-1952) giết chết một số địch (có 1 sĩ quan Pháp), phục kích bọn tổng vệ ở làng Miệt (đang trên đường hành quân) tại Côpơlong, chặn đứng âm mưu của chúng định càn xã Ruộng. Cùng thời gian này, bọn phản động mang danh "Đảng Cu Xun" trên đường đến vị trí Tà Cơn đã bị đoàn viên, thanh niên du kích làng Miệt phục kích, truy bắt. Từ đó "Đảng Cu Xun" tan rã. Tháng 5-1953, tốp lính của A Nha hành quân từ Húc Thượng qua Tà Bung đã bị đoàn viên, thanh niên du kích Húc Thượng phục kích, chúng không kịp chống cự, tháo chạy trở về đồn. Tháng 6-1953, một tiểu đội lính Phà Băng càn vùng Hướng Việt, đã bị đoàn viên, thanh niên du kích xã Hướng Việt phục kích tại Rà Nai, một số tên chết, trong đó có tên chỉ huy của tiểu đội là Pả Ta Pừng. Phối hợp với quân dân và thanh niên Hướng Hóa, bộ đội ta ở hạ Lào đã tập kích đồn Pha Băng, Ba Ngàn. Phần lớn trung đội bảo an đóng ở đồn đã bị diệt, trong đó có tên Tà Tè đồn trưởng.
Các tên Pả Ta Pừng, Tà Tè là các tên ác ôn phản động nổi tiếng bị diệt, đã làm cho bọn tổng vệ, dân vệ cũng như bọn ngụy quyền ở Khe Sanh... ngày càng hoang mang dao động... Lực lượng địch đóng dọc đường số 9 bị mất chân tay đắc lực, buộc chúng phải "án binh bất động"(1).
Nhìn chung, qua những tháng hoạt động đầu 1953, quân dân và thanh niên Quảng Trị đã nêu cao quyết tâm vượt qua khó khăn, ác liệt, anh dũng đánh thắng các trận càn nhỏ lẻ của địch, bao vây, tiêu diệt một số lô cốt, cứ điểm, phá hoại giao thông, gây cho địch nhiều khó khăn, thiệt hại ở chiến trường Bình-Trị-Thiên cũng như ở trung và hạ Lào. Vùng căn cứ của Quảng Trị được mở rộng, nối liền với vùng căn cứ các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Bình và các tỉnh thuộc nước bạn Lào anh em là Savanakhẹt và Saravan...
Sau thắng lợi của các chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, cục diện chiến tranh ở Việt Nam... càng chuyển biến mạnh theo chiều hướng có lợi cho quân và dân ta, bất lợi cho thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Qua chiến đấu và xây dựng lực lượng vũ trang, nhân dân ta đã lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Hậu phương ta được mở rộng và củng cố vững mạnh hơn trước. Các nước xã hội chủ nghĩa trước hết là Trung Quốc và Liên Xô giúp đỡ ta có hiệu quả về trang bị vũ khí, lương thực, thực phẩm, kinh nghiệm chiến đấu... Phong trào ủng hộ Việt Nam, phản đối chiến tranh của nhân dân Pháp và các nước thuộc địa của Pháp, của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới ngày càng lên mạnh.
Về phía địch, chúng đang ở trong tình thế khó khăn, nguy khốn. Quân đội viễn chinh xâm lược Pháp đang mắc kẹt vào mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán lực lượng, giữa tiến công ra vùng tự do và phòng ngự ở vùng chúng đang kiểm soát. Những khó khăn về kinh tế, xã hội ở ngay nước Pháp càng ngày càng phát triển, gánh nặng về chi phí chiến tranh Đông Dương mỗi ngày một tăng quá sức chịu đựng của ngân sách nước Pháp.
"Thất bại về quân sự, chính trị và khó khăn về kinh tế đặt Pháp đứng trước tình thế "lửa cháy hai đầu" hoặc bị nhân dân Đông Dương đánh bại, hoặc bị Mỹ hất cẳng. Với chính sách phản động và bảo thủ, thực dân Pháp chủ trương tranh thủ thêm viện trợ Mỹ, tập trung mọi cố gắng đẩy mạnh chiến tranh hòng tìm ra một lối thoát "danh dự". Đối với Mỹ, mục tiêu chiến lược của Mỹ ở Đông Dương là hất cẳng Pháp. Vì vậy, viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp ngày càng tăng, năm 1953 tăng gần gấp 3 so với năm 1952..."(1)
Tháng 5-1953 với sự thỏa thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp cử tướng Hăngri Nava - Tổng Tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Dương sang thay Xalăng, làm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương.
Với kế hoạch Nava, âm mưu của thực dân Pháp "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt" được thực hiện với quy mô vượt xa kế hoạch Rơve và kế hoạch Đơlát trước đây.
Mở đầu kế hoạch Nava, ngày 28-7-1953, giặc Pháp mở trận càn với quy mô lớn mang tên "Cuộc hành binh Camacgơ" vào căn cứ du kích đồng bằng của 4 huyện: Triệu Phong, Hải Lăng, Phong Điền, Quảng Điền, với mục đích của chúng là đánh chiếm vùng đồng bằng đông dân, nhiều lúa, tiến hành bình định, bắt thanh niên đi lính, phá hoại kinh tế và tiêu diệt bộ đội chủ lực Trung đoàn 95. Nhưng kết quả là chúng đã bị quân dân và thanh niên ở đây đánh bại: Hơn 450 binh lính và sĩ quan (có 1 quan tư) bị tiêu diệt, 125 tên khác bị thương. Ngày 5-8-1953, Bộ Chỉ huy Pháp ra lệnh lui quân không kèn không trống.
Sau trận càn của địch, Tỉnh ủy Quảng Trị mở Hội nghị bất thường đánh giá tình hình, nêu rõ một số khó khăn tồn tại để quân dân và thanh niên trong tỉnh tập trung giải quyết như trận càn đã làm cho khoảng 7.000 người ở Hải Lăng, phần lớn là người già, thiếu niên, nhi đồng phải sơ tán đi nơi khác, cuộc sống của họ bị xáo trộn... Tỉnh ủy chủ trương: "Giữ vững và phát triển cơ sở, tích cực tranh chấp quần chúng với địch, dùng mọi hình thức đấu tranh hợp pháp, bất hợp pháp, đấu tranh vũ trang để chống lại âm mưu thủ đoạn mới của địch như chống càn quét, chống bắt thanh niên đi lính, chống cướp lúa, chống chiến tranh gián điệp và các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch".
Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, dưới sự chỉ đạo của chi ủy, sự động viên tổ chức của chi đoàn, đoàn viên, thanh niên ở Triệu Hải đi đầu trong việc khắc phục hậu quả của trận càn Camacgơ vừa qua như tổ chức đưa các em thiếu niên, nhi đồng đi sơ tán, trở về với gia đình, sớm ổn định tình hình và tiếp tục đến trường... Những vùng địch vừa mở rộng chiếm đóng kiểm soát như Văn Quỷ, Phú Kinh, Diên Khánh... cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên bám sát dân để kịp thời hướng dẫn, giúp dân đấu tranh với các hình thức phù hợp nhằm bảo vệ, phát triển lực lượng cách mạng. Các chiến sĩ trẻ trong bộ đội địa phương huyện thực hiện chủ trương phân tán hoạt động của Huyện ủy Hải Lăng, mỗi tổ gồm 3 chiến sĩ và thực hiện 3 bám: Bám đồng, bám dân, bám địch, cùng với đoàn viên, thanh niên dân quân du kích cơ sở bảo vệ mùa màng, bảo vệ các đoàn dân công vận chuyển, chú ý phát triển mạnh lực lượng du kích, thực hiện mỗi đoàn viên, thanh niên là một du kích.
Tháng 9-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định kế hoạch tác chiến Đông-Xuân 1953 - 1954. Tiếp thu quyết định của Bộ Chính trị, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh mở đợt học tập, quán triệt nội dung chiến lược của cuộc tiến công Đông-Xuân 1953 - 1954 trong toàn thể đoàn viên, thanh niên, làm cho mỗi cán bộ, đoàn viên nhận rõ ý đồ của Đảng là giữ vững quyền chủ động, đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, phối hợp trên phạm vi cả nước... Với nguyên tắc về chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến là: Tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, đánh ăn chắc, đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt; chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh; giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng. ở Hướng Hóa, được sự chỉ đạo của Thường vụ Tỉnh ủy, Huyện ủy mở "Hội nghị đại biểu nhân dân Thượng du", khai mạc vào ngày 3-10-1953. Hội nghị có 250 đại biểu (trong đó có gần 200 là đoàn viên, thanh niên). Hội nghị tập trung học tập chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, vạch trần âm mưu chia rẽ dân tộc của địch. Hội nghị phát động phong trào du kích chiến tranh, sản xuất và tiết kiệm, động viên sức người sức của phục vụ giai đoạn tổng phản công 1953 - 1954.
Sau đợt quán triệt Nghị quyết Bộ Chính trị (9-1953), mọi việc chuẩn bị chiến trường, công tác tổ chức lực lượng được triển khai mạnh mẽ ở các cấp, các ngành trong tỉnh. Tính riêng trong tháng 10-1953, đoàn viên, thanh niên trong các lực lượng vũ trang huyện, xã cùng các tầng lớp khác đã tổ chức đánh địch, chống càn và thu thắng lợi ở Linh Giang (Gio Linh) Cam Giang, Cam Thanh (Cam Lộ), An Tiêm (Triệu Phong), Hải Lệ (Hải Lăng). Quân dân và thanh niên Hướng Hóa tích cực phục vụ mặt trận đường 9, mặt trận hạ Lào, chủ yếu là tham gia dân công vận tải, hoạt động du kích, kêu gọi lôi kéo một số thanh niên các dân tộc Vân Kiều, Pacô ở trong ngụy quân trở về với bản làng....
Ngày 6-12-1953, sau khi nghe Tổng Quân ủy báo cáo quyết tâm, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.
Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, ngày 10-12-1953, quân ta đánh Lai Châu, hạ tuần tháng 12-1953, quân ta đánh địch ở trung - hạ Lào và Đông Campuchia, ngày 26-1-1954, quân ta đánh địch ở Tây Nguyên; hạ tuần tháng 1-1954, quân ta đánh địch ở Thượng Lào...
Bị thất bại nặng, giặc Pháp buộc phải rút bớt tiểu đoàn ứng chiến 27-BTA ở Quảng Trị đưa ra Bắc Bộ và một tiểu đoàn ứng chiến khác sang hạ Lào. Vì vậy, lực lượng còn lại của địch ở Quảng Trị chỉ làm được nhiệm vụ mở các trận càn nhỏ, lẻ tẻ. Chớp thời cơ đó, Tỉnh ủy chủ trương đẩy mạnh mọi hoạt động của cuộc kháng chiến. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, đoàn viên, thanh niên đi đầu trong phong trào du kích chiến tranh, tổ chức quấy rối, tiêu hao, tiêu diệt địch, bao vây đồn bốt địch; đồng thời phát động quần chúng vùng tạm chiếm chống địch bắt thanh niên đi lính, chống lập hội tề, đẩy mạnh công tác binh địch vận, ngụy vận, với tinh thần phối hợp đắc lực với chiến trường chính. "Tính riêng 20 ngày đầu tháng 1-1954, quân dân và thanh niên trên mặt trận đường 9 - Hướng Hóa đã phá sập 17 cầu cống, làm giao thông vận chuyển của địch phục vụ mặt trận trung - hạ Lào bị tê liệt dài ngày"(1) "buộc địch rút ra khỏi các vị trí đồn bốt: Đầu Mầu, Rào Quán, Mai Lãnh, Vùng Kho..."(1)
Trước hoạt động mạnh của ta, Bộ Chỉ huy Pháp phải vội vàng điều 4 tiểu đoàn quân cơ động ứng chiến đến Quảng Trị, cố khai thông quốc lộ số 9, bảo vệ quốc lộ số 1. Giữa tháng 1-1954, địch cho một tiểu đoàn ứng chiến càn vào Cùa, chúng đã bị bộ đội và thanh niên dân quân du kích ở đây đánh bại.
Tiếp đó, địch lại tập trung lực lượng càn vùng đồng bằng của tỉnh nhằm bắt cóc cán bộ, đảng viên, đoàn viên, ngăn chặn hành lang lên chiến khu, về đồng bằng... của tỉnh Quảng Trị. ở vùng tạm chiếm, địch ra lệnh cho bọn tề vệ cung cấp danh sách phụ nữ chưa chồng tuổi từ 18 đến 25 để sung vào lính, bắt các gia đình có con em đi lính cho Pháp phải làm giấy cam đoan không đào rã ngũ. Chúng lập vành đai trắng dọc quốc lộ số 1, quốc lộ 9. Trong và sau Tết Nguyên đán Giáp Ngọ (2-1954), địch cho bọn tâm lý chiến mở đợt tuyên truyền xuyên tạc chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ, trước hết là "Tháng hữu nghị Việt - Trung - Xô" do ta tổ chức.
Sau khi nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ, giặc Pháp càng ra sức thực hiện kế hoạch Nava, ráo riết vây bắt thanh niên vào lính, đôn quân, tăng cường phòng thủ thị xã Quảng Trị - Đông Hà. Lúc này, tỉnh Quảng Trị đang tập trung lực lượng khắc phục hậu quả trận lụt cuối năm 1953, lực lượng tác chiến chỉ có bộ đội địa phương và du kích. Mặc dù tình hình còn nhiều khó khăn, nhưng tinh thần quật khởi của quân dân và thanh niên trong tỉnh vẫn giữ vững, lại được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Cấp ủy, chính quyền cách mạng các cấp hết sức chặt chẽ, trực tiếp và toàn diện, được thắng lợi của các chiến trường trong cả nước... cổ vũ, nên đã tạo ra khí thế mới, mọi đoàn viên, thanh niên và các tầng lớp khác đều phấn khởi, hăm hở hoạt động, phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ.
Trong tháng 3 và tháng 4-1954, quân dân và thanh niên mặt trận Đường 9 - Hướng Hóa đánh mạnh vào hệ thống giao thông của địch, phá sập cầu Rào Quán, bao vây địch ở vị trí Cù Bách và thị trấn Khe Sanh... "Sau khi bộ đội chủ lực ta đánh tiêu diệt và bức rút nhiều đồn bốt, huyện Hướng Hóa và một phần huyện Cam Lộ được hoàn toàn giải phóng"(1).
ở đồng bằng, bộ đội địa phương bí mật luồn sâu vào các tuyến chiếm đóng của địch, cùng đoàn viên, thanh niên cơ sở đánh địch, chống càn, giải thoát cho 200 thanh niên (Hải Lăng), 458 thanh niên (Vĩnh Linh), 80 thanh niên (Đông Hà) vừa bị địch bắt. Địch vây ráp bắt thanh niên đi lính, nhiều thanh niên tìm cách lánh hoặc thoát ly gia đình ra vùng giải phóng tham gia kháng chiến.
Giữa tháng 5-1954, quân dân và thanh niên Hướng Hóa dự cuộc mittinh lớn tổ chức tại Tà Cơn để chào mừng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng (7-5-1954), kết thúc oanh liệt cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 của quân và dân ta, chào mừng quê hương Hướng Hóa đã được hoàn toàn giải phóng.
Sau cuộc mittinh, với niềm phấn khởi và tự hào, đoàn viên, thanh niên các dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, hướng dẫn của cán bộ Huyện Đoàn, Xã Đoàn đã hăng hái bắt tay vào các nhiệm vụ: sẵn sàng chiến đấu, sản xuất, đặc biệt là tổ chức và ổn định cuộc sống cho nhân dân các dân tộc vừa được giải phóng.
Từ ngày 8-5-1954 đến giữa tháng 7-1954, trải qua 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp hẹp rất căng thẳng và phức tạp, nhưng với tinh thần chủ động và cố gắng của phái đoàn ta do đồng chí Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn, ngày 20-7-1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam đã được ký kết. Hiệp định Giơnevơ phản ánh xu thế chung của những nước lớn trong tình hình quốc tế lúc đó. Nó đã góp phần cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, chiến thắng của các cuộc tiến công Đông Xuân 1953 - 1954 trên toàn chiến trường cả nước và ba nước Đông Dương, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ở Đông Dương. Các nước tham gia Hội nghị tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, Lào và Việt Nam.
Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân dân và thanh niên Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên thế giới"(1).
Hòa cùng niềm vui chung, tuổi trẻ tỉnh Quảng Trị sau khi tiếp thu tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng (khóa 2) nhận rõ: "Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương, mọi người sẵn sàng nhận nhiệm vụ trọng đại do lịch sử giao phó trong thời kỳ mới là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở khu vực Vĩnh Linh, đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở quê hương Quảng Trị nói riêng và toàn miền Nam nói chung.