|
|
 |
|
|
|
|
|
Khe Sanh 1968, thắng lợi lớn của quân- dân ta
Ngày cập nhật: 04/07/2008 3:42:37 CH |
|
Khe Sanh- Quảng Trị một tập đoàn phòng ngự mạnh, liên hoàn, kiên cố nhất của Mỹ- ngụy ở địa đầu miền Nam Việt Nam gồm các cứ điểm Làng Vây, Chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm phòng ngự sân bay Tà Cơn. Tại đây địch bố trí Trung đoàn 26 Thủy quân lục chiến (TQLC) được tăng cường thêm 1 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn TQLC số 3 Mỹ với quân số khoảng 6.000 tên và một số tiểu đoàn biệt động ngụy khoảng 4.000 tên cùng nhiều trang bị kỹ thuật hiện đại.
Cuối năm 1967 Sư đoàn 304 chúng tôi vượt sông Bến Hải vào chiến đấu tại thung lũng Khe Sanh. Sư đoàn 304 được điều vào chiến đấu nơi đang có Sư đoàn 325, một số đơn vị của mặt trận và lực lượng vũ trang địa phương đã chiến đấu từ cuối năm 1967, nhưng đến tháng 3/1968 Sư đoàn 325 được điều vào tăng cường cho chiến trường Tây Nguyên giao lại toàn bộ nhiệm vụ chiến đấu cho Sư đoàn 304.
Sư đoàn 304 được tăng cường 1d xe tăng 198, một trung đoàn cao xạ có nhiệm vụ mở màn chiến dịch: Tiêu diệt Chi khu quân sự Hướng Hóa, Huội San, cứ điểm Làng Vây; vây ép cụm phòng ngự sân bay Tà Cơn và đánh quân chi viện giải vây cho Tà Cơn.
Sau khi nghiên cứu tình hình, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao nhiệm vụ cho các trung đoàn: Trung đoàn 66 có nhiệm vụ tiêu diệt Chi khu quân sự Hướng Hóa mở màn cho chiến dịch; Trung đoàn 24 tiêu diệt Huội San, cứ điểm Làng Vây, Trung đoàn 9 lực lượng dự bị sẵn sàng đánh quân tăng viện và sau đó vào trực tiếp vây lấn cụm cứ điểm phòng ngự Tà Cơn.
Đúng 2 giờ ngày 21/1/1968, pháo binh của mặt trận và Sư đoàn đồng loạt bắn vào các cứ điểm Chi khu quân sự Hướng Hóa, Làng Vây, Tà Cơn và các trận địa pháo của địch ở thung lũng Khe Sanh mở màn cho chiến dịch. Đồng thời, lực lượng bộc phá của Trung đoàn 66 nhanh chóng mở cửa, bộ binh ào ạt xông lên. Lúc đầu địch hoang mang nhưng sau đó chúng đã trấn tĩnh lại, dựa vào các công sự, lô cốt đánh trả quyết liệt. Cuộc tiến công của ta gặp khó khăn, tiểu đoàn trưởng hy sinh, cả ban chỉ huy đại đội 2 hướng chủ yếu bị thương vong gần hết nên cuộc chiến đấu của ta với địch giằng co kéo dài suốt cả ngày 21/1 đến 9h30 ngày 22/1 ta mới làm chủ được cứ điểm.
Ngày 23/1/1968, Trung đoàn 24 tiêu diệt cứ điểm Huội San, sau đó tấn công cứ điểm Làng Vây. Cứ điểm Làng Vây do 1 tiểu đoàn biệt động ngụy có cố vấn Mỹ chỉ huy, bố trí trên 2 cao điểm 320 và 230 ngay trên trục đường 9; công sự, chướng ngại vật kiên cố, vững chắc liên hoàn, có hầm ngầm bằng bê tông. Khi tiến công tiêu diệt cứ điểm Làng Vây, Trung đoàn 24 được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, tiến công trên 2 hướng: hướng chủ yếu từ tây nam làng Troài đánh lên A320; hướng thứ yếu từ phía tây theo trục đường 9 đánh vào 230. Đây là lần đầu tiên quân ta đưa xe tăng vào chiến đấu trên chiến trường miền Nam nên công tác chuẩn bị phải rất tỷ mỉ, chu đáo, chắc thắng.
Trước khi nổ súng 1 tuần, ta đã lợi dụng sông Sê Pôn đưa được 1 đại đội xe tăng lội nước vào cách Làng Vây gần 3 km trên hướng chủ yếu, còn trục Đường 9 công binh làm 9 ngầm ngụy trang chu đáo để khi pháo hỏa chuẩn bị thì cho xe tăng mở tốc độ nhanh chóng vượt lên phối hợp với bộ binh. Địch hoàn toàn bất ngờ. Pháo binh của ta và mặt trận bắn trúng cứ điểm ngay từ loạt đạn đầu, cứ điểm Làng Vây trùm trong khói lửa, công binh lập tức lên mở cửa, xe tăng từ làng Troài cũng vượt lên dùng pháo và 12,7 chi viện cho công binh mở cửa.
23h30 mở cửa xong, xe tăng vượt lên; bộ binh theo sau, chỉ hơn 1 giờ chiến đấu, hướng chủ yếu đã đánh chiếm được điểm cao 320; hướng thứ yếu gặp khó khăn phải đến 3h30 ngày 7/2/1968 ta mới làm chủ hoàn toàn cứ điểm Làng Vây.
Ngày 8/2, Trung đoàn 9 được lệnh vào trực tiếp vây lấn cụm phòng ngự Tà Cơn. Một điều bất ngờ xảy ra, trên đường vào vây lấn, ngày 6/2 Tiểu đoàn 2 và Trung đoàn bộ bị B52 địch đánh trúng đội hình, thương vong hơn 200 đồng chí, một số vũ khí trang bị cũng bị phá hủy. Đây là một tổn thất lớn không những về người và vũ khí trang bị mà còn tác động cả về tư tưởng và tâm lý bộ đội, do đó chủ trương của Đảng ủy và chỉ huy Trung đoàn lúc này là dừng tại chỗ nhanh chóng động viên tư tưởng, xây dựng quyết tâm chiến đấu để trả thù cho đồng đội, đồng thời bổ sung quân số và trang bị vũ khí cho d2, nên khi được vào làm nhiệm vụ vây lấn Tiểu đoàn 2 vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ.
 |
Tuổi trẻ Trường Sơn.
Ảnh: Đoàn Công Tính |
Cụm cứ điểm Tà Cơn là cái lõi của tập đoàn phòng ngự Khe Sanh của Mỹ-ngụy, có chiều dài khoảng 5 km, rộng khoảng 3 km, do Trung đoàn 26, Sư đoàn Thủy quân lục chiến số 3 Mỹ được tăng cường 2 tiểu đoàn Mỹ- ngụy chốt giữ, Ngoài ra còn có 1 đại đội xe tăng M48, 1 tiểu đoàn P105, 1 đại đội cối 106,7, có một đường băng dã chiến dài khoảng hơn 3.000 m đảm bảo hoạt động của máy bay C130 và một số trực thăng vũ trang; khi xảy ra tác chiến còn được các cụm pháo tầm xa 155-175 (vua chiến trường) từ Tân Lâm và 241 chi viện; về không quân hàng ngày có 130- 150 lượt máy bay phản lực và B52 sẵn sàng chi viện. Hệ thống công sự, vật cản được xây dựng kiên cố và liên hoàn; công sự chiến đấu bằng bê tông đúc sẵn, hố chiến đấu cá nhân có nắp bằng bao cát, một số lô cốt bằng bê tông, hầm ngầm, hệ thống giao thông hào, chiến hào liên hoàn; xung quanh bao bọc từ 6 đến 10 hàng rào giây thép gai các loại, các bãi mìn dày đặc, xen kẽ rải cây nhiệt đới (loại thu tin điện tử) khắp các nơi nghi quân ta đi qua.
Để phòng thủ từ xa, trên những cao điểm xung quanh quan trọng có ý nghĩa về chiến thuật địch bố trí từ 1 đến 2 đại đội Mỹ hoặc biệt động ngụy chiếm giữ. Ngoài ra chúng còn bố trí tiểu đoàn 37 biệt động ngụy ngay cổng Tà Cơn, 1 tiểu đoàn bắc Tà Cơn; 1 tiểu đoàn xung quanh sở chỉ huy.
Vì cụm cứ điểm Tà Cơn là một cụm phòng ngự mạnh, kiên cố, vững chắc nhất của Mỹ- ngụy tại miền Nam Việt Nam, do đó ta chủ trương "Diệt một số cứ điểm ngoại vi sau đó vây ép chặt buộc địch ra giải tỏa, để ta đánh địch ngoài công sự, vừa diệt được nhiều địch, lại giảm thương vong của ta".
Trung đoàn 9 vào vây lấn trực tiếp trên 2 hướng: đông đông nam và tây tây nam, 2 trung đoàn 95 và 101/F325 vây xa trên các cao điểm phía bắc: 845, 852, 550. Chỉ trong thời gian ngắn trận địa vây lấn đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh: Có hệ thống công sự chiến đấu có nắp, hệ thống chiến hào, giao thông hào liên hoàn; trung đoàn còn huy động các lực lượng của đơn vị đào được 2 giao thông hào dài 5 km nối liền từ các trận địa chốt với phía sau nam đường 9. Hệ thống hỏa lực được bố trí chặt chẽ có thể khống chế được sân bay, đồng thời một số tổ bắn tỉa có kính ngắm hồng ngoại đã vào sát hàng rào xây dựng công sự chiến đấu, cả ngày và đêm. Ngoài các loại hỏa lực bản thân, khi xảy ra tác chiến trung đoàn còn được các cụm pháo của sư đoàn và mặt trận chi viện trực tiếp.
Sau khi xây dựng được trận địa tương đối hoàn chỉnh, các trận địa chốt và hỏa lực cối, 12,7 bắt đầu khống chế sân bay làm cho máy bay xuống tiếp tế gặp khó khăn, hoạt động đi lại của địch trong căn cứ cũng bị ta khống chế, một số địch đã bị diệt. Đồng thời các mũi lấn dũi của ta ngày càng phát triển sâu vào áp sát địch, có mũi đã lấn dũi qua hàng rào thứ 2, 3 của địch. Trước nguy cơ bị bao vây tiêu diệt, địch liên tục dùng máy bay phản lực, B52 đánh phá vào đội hình chiến đấu của ta, có ngày chúng xuất kích tới 300 lần chiếc phản lực, 2 đến 3 phi vụ B52 rải thảm, các trận địa pháo ở Tân Lâm và 241 cũng bắn hàng ngàn quả đạn chi viện cho quân địch ở Tà Cơn. Tính đến trung tuần tháng 2/1968 Mỹ đã ném xuống Khe Sanh tới 95.430 tấn bom các loại.
Mặc dầu bị pháo binh và không quân của địch đánh phá ác liệt, thương vong của ta tăng (một tiểu đoàn đủ quân số nhưng chỉ trong một tuần vào vây lấn đã phải bổ sung từ 200-300 quân, sau 1 tháng phải rút ra phía sau củng cố) nhưng với quyết tâm chiến đấu kiên cường, không sợ hy sinh gian khổ, các mũi lấn dũi của ta càng ngày càng lấn sâu vào trong hàng rào của địch, nên việc bảo đảm tiếp tế của địch rất khó khăn, máy bay không thể hạ cánh xuống sân bay phải thả dù, nhưng hàng hóa chỉ rơi được một phần vào trong căn cứ, còn lại rơi ra các trận địa lấn dũi của ta. Thấy dùng không quân và pháo binh không ngăn được phát triển của quân ta, nên chúng phải đưa lực lượng trong căn cứ ra thực hành phản kích hòng đẩy lùi các mũi lấn dũi của ta ra xa và chiếm lại một số chốt của ta. Nhiều cuộc chiến đấu của ta với quân Mỹ diễn ra cực kỳ ác liệt...
Sau 2 tháng vây lấn, ta đã diệt hàng ngàn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh; việc tiếp tế cho quân trong căn cứ của địch gặp rất nhiều khó khăn, ngay cả nước sinh hoạt cũng chỉ duy nhất có một con lạch nhỏ ngay sát hàng rào phía Bắc, đã bị các tổ bắn tỉa của ta khống chế. Lúc này số phận của hơn 6.000 tên Mỹ, hàng ngàn quân ngụy trong căn cứ Tà Cơn vô cùng khốn đốn; nhưng trên toàn chiến trường miền Nam nhiều nơi đang diễn ra những cuộc đọ sức quyết liệt, nên địch vẫn chưa quyết định đưa quân giải tỏa cho Khe Sanh.
Trung tuần tháng 3/1968 mặt trận dự kiến nếu cuối tháng 3/1968 địch chưa tung quân ra giải tỏa thì ta sẽ đưa lực lượng đánh chiếm một đoạn tiền duyên phòng ngự của địch để tăng sức ép; nhiệm vụ đánh chiếm tiền duyên được giao cho Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9 chốt ở đông sân bay Tà Cơn, nơi đây trận địa vây lấn của ta chỉ cách chiến hào địch trên dưới 100 m; yêu cầu trong 10 ngày tiểu đoàn 3 phải đào được 2 đoạn hào vào cách tiền duyên phòng ngự địch 10-15 m. Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, ác liệt vì nơi đây ta với địch rất gần, địch đã tăng cường công sự và hỏa lực rất mạnh, mặt đất ở đây phẳng, đất đá rất rắn, lúc đầu ta chủ trương đào đường hào ngầm như đánh đồi A1 Điện Biên Phủ, thay nhau nhiều tổ đào liên tục cả ngày lẫn đêm cũng chỉ được 3-5 m, như vậy phải mất hàng tháng mới vào tới chiến hào địch, do đó ta phải thay đổi cách đào, chỉ đào ban đêm, mỗi đêm có hai tổ, mỗi tổ 10 người do 1 cán bộ đại đội hoặc trung đội dẫn đầu, mỗi người chuẩn bị 1 con cúi bằng bao cát mang theo, xẻng cuốc ban ngày phải mài thật sắc lợi dụng đêm tối bí mật vào trận địa. Khi vào mỗi người cách nhau 2-3 m, đặt cúi trên đầu, phải đào thật nhanh lấy 1 hố dấu được cái đầu, hỏa lực bắn thẳng phải chế áp thật mạnh quân địch ở chiến hào; phương pháp này kết quả nhanh hơn, một đêm đào được từ 10-15 m dài, nhưng hàng chục đồng chí thương vong; sau 10 ngày ta cũng đã đào được vào cách tiền duyên địch từ 15-20 m, chỉ còn 2 hàng rào bùng nhùng và vướng chân.
Ngày 22/3/1968, mặt trận quyết định đánh chiếm tiền duyên đông sân bay Tà Cơn. Chiều 22/3/1968 đồng chí Hoàng Đan, Phó Tư lệnh Sư đoàn xuống Sở chỉ huy Tiểu đoàn 3 giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Đức Huy, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 trực tiếp vào chỉ huy hướng chủ yếu, đội hình đánh chiếm tổ chức thành 2 mũi: Mũi chủ yếu 1 đại đội tăng cường, hướng thứ yếu 1 đại đội, mỗi đại đội quân số lúc này chỉ còn 40-50 người.
Đúng 23h30 ngày 22/3/1968, lệnh tấn công pháo binh của Sư đoàn và mặt trận bắn vào Sở chỉ huy cụm phòng ngự Tà Cơn và chế áp các trận địa pháo, súng cối và hỏa lực bắn thẳng vào chiến hào và chế áp hỏa lực địch, tổ bộc phá nhanh chóng xông lên, nhưng địch ở đây đã dựa vào các công sự bê tông bắn trả mãnh liệt, chiến sĩ bộc phá của ta bị thương vong nhiều; súng cối, ĐKZ của địch cũng đánh phá mãnh liệt vào đội hình xung kích của ta, máy bay phản lực đánh phá đội hình phía sau. Sau gần 20 phút chiến đấu hướng chủ yếu mới mở được 1 hàng rào bùng nhùng, hướng thứ yếu vẫn còn cách xa tiền duyên địch 50-60 m, chiến sĩ xung kích của ta thương vong gần hết. Nhận thấy việc đánh chiếm tiền duyên khó thành công nên mặt trận và Sư đoàn đã lệnh dừng tấn công, lui vào trận địa chốt củng cố.
Trận tấn công đánh chiếm một bộ phận tiền duyên của địch ở đông sân bay Tà Cơn tuy chưa thành công nhưng đã tạo sức ép ghê gớm đối với địch, chúng phải kêu lên "Sống ở Khe Sanh nào khác gì kẻ bị kết án ngồi trên ghế điện" (Tin AP).
Ngày 30/3/1968 địch cố gắng tổ chức một cuộc phản kích lớn vào trận địa chốt số 3 của đại đội 6, tiểu đoàn 2, trung đoàn 9 với 2 tiểu đoàn TQLC Mỹ, 2 đại đội ngụy và xe tăng, ý định chiếm bằng được chốt số 3 của ta, nhưng sau gần 5 giờ chiến đấu liên tục với địch, ta đã diệt trên 300 tên tại trận địa. Đây là trận phản kích cuối cùng của địch.
Đến lúc này cả Tổng thống Giôn-xơn và Quốc hội Mỹ đều lo cho gần 6.000 quân Mỹ đang chết dần chết mòn ở Khe Sanh; cả thế giới cũng hồi hộp theo dõi diễn biến chiến sự tại Khe Sanh. Trước nguy cơ Khe Sanh bị tiêu diệt như Điện Biên Phủ, cuối cùng Tổng thống Giôn-xơn phải quyết định cứu nguy cho Khe Sanh.
Ngày 1/4/1968 chiến dịch giải tỏa cho Khe Sanh bắt đầu. Sư đoàn không vận số 1- con đẻ của Bộ trưởng Quốc phòng Mc.Namara được tung vào Khe Sanh. Sư đoàn gồm 3 lữ đoàn, mỗi lữ đoàn có 3 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn có từ 800 đến 1000 quân; 1 tiểu đoàn trinh sát không kỵ; 1 tiểu đoàn trực thăng vũ trang; 3 tiểu đoàn pháo 105; 2 đại đội pháo sáng; 1 đại đội máy bay vận tải có tổng cộng 439 máy bay trực thăng và một số máy bay vận tải. Ngoài ra, còn có chiến đoàn dù số 3 ngụy và 1 tiểu đoàn pháo 105 cùng tham gia.
Sáng sớm 1/4/1968, địch cho 5 tốp B52 ném bom rải thảm xuống 2 bên đường 9 đông làng Khoai, sau đó cho 112 lần chiếc trực thăng thả vật liệu làm cầu đường và 74 lần chiếc đổ 1 tiểu đoàn quân Mỹ xuống Bồng Kho, sửa đường Tân Lâm đến Calu. Ngày 2/4/1968, B52 oanh tạc đông nam Tà Cơn, 14h30 trực thăng đổ 1 tiểu đoàn quân Mỹ xuống đông làng Cát và 1 tiểu đoàn xuống Càlu.
Ý thức được tầm quan trọng của vị trí làng Khoai trên trục đường 9, vì nếu giữ được làng Khoai thì quân Mỹ trong căn cứ Tà Cơn vẫn bị vây hãm, chia cắt nên trước khi địch tổ chức hành quân giải tỏa, tiểu đoàn 3 đã được lệnh xây dựng chốt ngăn chặn ở làng Khoai, lực lượng bố trí chốt làng Khoai gồm 20 tay súng do đồng chí Nguyễn Văn Bình- tham mưu trưởng Tiểu đoàn và đồng chí Bùi Ngoãn, đại đội phó đại đội 11/D3 chỉ huy.
Sáng 4/4/1968, sau khi cho pháo binh và trực thăng vũ trang bắn phá hàng giờ đồng hồ vào trận địa chốt làng Khoai, một tiểu đoàn quân địch chia làm 2 mũi tấn công vào chốt làng Khoai; quân ta để địch vào tới 20-30 m mới bất ngờ nổ súng, hàng chục tên địch gục ngã, súng cối và pháo binh ta cũng bắn vào đội hình tấn công của địch, nhưng ỷ lại lực lượng đông chúng vẫn tiếp tục xung phong, nhiều tên địch tiếp tục bị diệt. Trong ngày hôm đó ta đã bẻ gãy 5 đợt tấn công của địch diệt hàng trăm tên; đợt tiến công thứ 3 của địch đồng chí Bùi Ngoãn, đại đội phó bị thương gãy chân, anh em yêu cầu đưa về phía sau cứu chữa, nhưng đồng chí không đồng ý và yêu cầu 1 chiến sĩ dùng lưỡi lê cắt chân bị gãy để tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu và đã hy sinh tại trận địa (kết thúc chiến dịch, đồng chí Bùi Ngoãn được đề nghị tuyên dương Anh hùng LLVTND và được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba).
Sau 5 lần tấn công vào chốt của ta không thành công và bị thương vong nặng, nên địch lui về làng Cát củng cố đồng thời cho pháo và không quân tiếp tục đánh phá vào trận địa chốt làng Khoai của ta. Bên ta cũng bị thương vong gần 10 đồng chí, trận địa bị phá hoại một phần nên chiều hôm đó ta lui về tuyến 2 chốt giữ. Khoảng hơn 7 giờ tối đồng chí Nguyễn Đức Huy, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 lên kiểm tra thấy lực lượng chốt giữ còn ít nên đã rút lực lượng về phía sau và điều một khẩu đại liên lên tăng cường, đồng thời đưa lực lượng lên chốt giữ lại trận địa phía trước.
Chốt làng Khoai còn chiến đấu liên tục đến ngày 7/4/1968 thì được lệnh rút sang phía nam để phối hợp với hỏa lực tiếp tục đánh địch.
Trong khi đó trên hướng tây nam, lúc 6 giờ ngày 4/4/1968, một tiểu đoàn TQLC Mỹ cũng nống ra chiếm các mỏm 3, 4, 5 động Chê Riêng tây bắc cao điểm 471. Ý định của chúng nếu đánh chiếm được cao điểm 471 sẽ khống chế được cả vùng tây bắc Tà Cơn nhưng đã bị đại đội 7, tiểu đoàn 2, trung đoàn 9 và 1 phân đội của tiểu đoàn 9, trung đoàn 66 đánh thiệt hại nặng. 15 h cùng ngày, 1 tiểu đoàn quân địch đổ bộ đường không xuống Chê Riêng phối hợp với lực lượng TQLC địch tại đây nhưng lại bị tiểu đoàn 9, trung đoàn 66 tiêu diệt.
Tại chốt 595 của ta diễn ra trận chiến đấu ác liệt suốt 2 ngày 6- 7/4, địch bị tiêu diệt gần 200 tên, riêng chiến sĩ Nguyễn Hữu Bào diệt 79 tên, cuối chiến dịch đồng chí Bào được tuyên dương Anh hùng LLVTND.
Ngay sau khi địch mở cuộc hành quân "Ngựa bay" giải tỏa cho Tà Cơn, Bộ điều động thêm Sư đoàn 308 vào tham gia chiến đấu cùng với F304 tại chiến trường Khe Sanh.
Sau 13 ngày sư đoàn kỵ binh đường không số 1 Mỹ và chiến đoàn dù số 3 ngụy đổ bộ xuống Khe Sanh cứu nguy cho hơn 6.000 thủy quân lực chiến Mỹ, bị thiệt hại nặng vẫn không giải tỏa được Tà Cơn nên tối ngày 14/4/1968 phải kết thúc cuộc hành quân "Ngựa bay". Hãng UPI và đài BBC đều công bố: "Cuộc hành quân Phi-ga-sơn (Ngựa bay) đã chấm dứt".
Sau cuộc hành quân "Ngựa bay" kết thúc, chúng mở tiếp cuộc hành quân Cốt-len II tổ chức cho lính Mỹ tháo chạy khỏi Khe Sanh, ta tiếp tục diệt nhiều tên khi chúng rút chạy.
Ngày 9/7/1968 lá cờ giải phóng đã tung bay trên cột cờ sân bay Tà Cơn.
Trải qua 170 ngày đêm vây lấn Khe Sanh, ta đã đánh quỵ Sư đoàn 3 TQLC và sư đoàn không vận số 1 Mỹ, phá hủy, bắn cháy nhiều phương tiện chiến tranh, bắn rơi hàng trăm máy bay các loại, giải phóng một địa bàn rộng lớn phía tây tỉnh Quảng Trị, phá vỡ một mảng tuyến phòng ngự thép ngăn chặn ở địa đầu Nam Việt Nam.
Thắng lợi của mặt trận Khe Sanh có ý nghĩa lớn. Báo Nước Pháp buổi chiều ngày 2/6/1968 viết: "Như vậy, một lần nữa quyền chủ động về tay Việt Cộng, họ đã bắt Mỹ phải thay đổi về chiến lược...".
Hãng Roi-tơ bình luận: "Khe Sanh được ghi vào lịch sử cuộc chiến tranh của Mỹ ở Nam Việt Nam như một nơi phải trả với giá đắt nhất bằng máu...".
Bác Hồ gửi điện khen: "...thắng lợi Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân, dân và cán bộ ta, góp phần vào thắng lợi to lớn của toàn miền Nam... mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa...".
Sau chiến dịch, Sư đoàn 304 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì; các Trung đoàn đều được tặng thưởng Huân chương, 1.482 cán bộ, chiến sĩ được tặng Huân chương; 2 đồng chí được tuyên dương Anh hùng LLVTND.
Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy
(Nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 9, Sư đoàn 304)
|
|
|
|
|